Tình hình Kinh tế xã hội tháng 3 và quý I năm 2025

Thứ hai - 31/03/2025 00:55
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 3
VÀ QUÝ I NĂM 2025
 
Trong ba tháng đầu năm 2025, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; căng thẳng thương mại gia tăng, việc thay đổi chính sách của một số nền kinh tế lớn tiềm ẩn rủi ro đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Tại thời điểm tháng 3/2025, các tổ chức quốc tế OECD, FR, UN và WB điều chỉnh giảm hoặc giữ nguyên tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2025 so với dự báo trước đó, riêng IMF điều chỉnh tăng nhẹ. Cụ thể: Theo báo cáo Triển vọng kinh tế thế giới cập nhật tháng 01/2025 của IMF, tăng trưởng toàn cầu được dự báo đạt 3,3% trong năm 2025 (tăng 0,1 điểm phần trăm so với dự báo trong tháng 10/2024), thấp hơn mức trung bình lịch sử 3,7% của giai đoạn 2000 - 2019. Tuy nhiên, bức tranh toàn cảnh kinh tế thế giới ẩn chứa nhiều gam màu khác nhau giữa các nền kinh tế và triển vọng tăng trưởng toàn cầu bấp bênh. Trong báo cáo kinh tế sơ bộ “Vượt qua sự không chắc chắn” phát hành tháng 03/2025, OECD dự báo tăng trưởng GDP toàn cầu đạt 3,1% năm 2025, giảm 0,2 điểm phần trăm so với dự báo trong tháng 12/2024, do các rào cản thương mại cao hơn ở một số nền kinh tế thuộc nhóm G20, sự gia tăng bất ổn về địa chính trị, chính sách đã gây áp lực lên đầu tư và chi tiêu hộ gia đình. Trong báo cáo Tình hình và triển vọng kinh tế thế giớitháng 01/2025, UN nhận định tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2025 đạt 2,8%, giữ nguyên so với dự báo trong tháng 6/2024. Lạm phát tiếp tục giảm và nới lỏng tiền tệ sẽ thúc đẩy tổng cầu, trong khi các cuộc xung đột và căng thẳng địa chính trị đang diễn ra có thể thách thức nguồn cung.Theo báo cáo tháng 01/2025, WB dự báo tăng trưởng toàn cầu đạt 2,7% trong năm 2025, giữ nguyên so với dự báo trong tháng 6/2024. WB cũng lưu ý bất ổn chính sách gia tăng, thay đổi chính sách thương mại bất lợi, căng thẳng địa chính trị, lạm phát dai dẳng và thảm họa thiên nhiên liên quan đến khí hậu sẽ là những trở ngại tiềm tàng đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Theo Báo cáo Triển vọng kinh tế toàn cầu tháng 03/2025, FR dự báo GDP thế giới đạt 2,3% trong năm 2025, điều chỉnh giảm 0,3 điểm phần trăm so với dự báo trong tháng 12/2024. Mức tăng trưởng này thấp hơn nhiều so với xu hướng và giảm so với mức 2,9% trong năm 2024 do hoạt động kinh tế có xu hướng giảm tại các nền kinh tế phát triển và mới nổi.
Trong nước, sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Ất Tỵ, hoạt động sản xuất kinh doanh trên khắp cả nước đã ổn định và tăng dần. Các Bộ, ngành, địa phương quyết tâm thực hiện nhiệm vụ, giải pháp tại Nghị quyết số 01/NQ-CP, Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 08/01/2025 của Chính phủ; Chỉ thị 03/CT-TTg về thực hiện nhiệm vụ trọng tâm sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Ất Tỵ 2025, tạo động lực tăng tốc, bứt phá phát triển kinh tế – xã hội theo mục tiêu đề ra.
Trong tỉnh, trước những thuận lợi và khó khăn đan xen, ngay từ đầu năm 2025, tỉnh Thái Bình đã tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, đổi mới trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành tập chỉ đạo quyết liệt, xác định các nhiệm vụ trọng tâm để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt 2 con số (10,5%). Quý I năm 2025, với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh, tình hình kinh tế - xã hội đạt được nhiều kết quả quan trọng. Cụ thể:
A. TÌNH HÌNH KINH TẾ
I. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)
Trong 3 tháng đầu năm có nhiều “điểm sáng” trong đó nổi bật là công nghiệp, dịch vụ và xuất khẩu. Lĩnh vực nông lâm thủy sản tiếp tục duy trì ổn định, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng phục hồi mạnh mẽ, thể hiện qua các cơ sở sản xuất công nghiệp đi vào hoạt động ổn định ngay sau kỳ nghỉ Tết nguyên đán; lĩnh vực dịch vụ, các hoạt động thương mại diễn ra sôi động, trị giá xuất khẩu một số sản phẩm chủ lực tăng cao.
GRDP trên địa bàn tỉnh Thái Bình quý I năm 2025 (theo giá so sánh 2010) ước đạt 16.827 tỷ đồng, tăng 9,04% so với quý I năm 2024. Khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 3.002 tỷ đồng, tăng 2,03% so với cùng kỳ, đóng góp 0,39 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung. Khu vực công nghiệp và xây dựng ước đạt 7.334 tỷ đồng, tăng 12,04% so với cùng kỳ, đóng góp 5,11 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng (ngành công nghiệp tăng 13,82%, đóng góp 4,18 điểm phần trăm, ngành xây dựng tăng 7,63%, đóng góp 0,93%). Khu vực dịch vụ ước đạt 5.459 tỷ đồng, tăng 9,52% so với cùng kỳ, đóng góp 3,07 điểm phần trăm. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,51%, đóng góp 0,47 điểm phần trăm của mức tăng trưởng chung.
Cơ cấu kinh tế tỉnh Thái Bình ước quý I năm 2025 (theo giá hiện hành) như sau: Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 18,24%; Khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 41,92%; Khu vực dịch vụ chiếm 33,91%; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,93%.
II. Giá trị sản xuất (GO)
Giá trị sản xuất quý I năm 2025 toàn tỉnh (theo giá so sánh 2010) ước đạt 48.670,2 tỷ đồng, tăng 12,97% so với quý I năm 2024; trong đó: khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 16,51%, khu vực dịch vụ ước đạt 9.813,5 tỷ đồng, tăng 9,82%. Cụ thể:
1. Sản xuất nông, lâm nông và thủy sản.
Quý I/2025, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh nhìn chung ổn định. Sản xuất vụ Đông đạt được nhiều kết quả quan trọng, sản lượng các loại cây trồng chính đều tăng đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh Thái Bình; Thời tiết cơ bản thuận lợi để gieo cấy lúa xuân trong khung thời vụ; sau cấy, lúa sinh trưởng, phát triển tốt; dịch bệnh trên đàn vật nuôi được kiểm soát; các sản phẩm chăn nuôi và thủy sản có sự tăng trưởng, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của người dân được thể hiện kết quả cụ thể như sau:
1.1. Nông nghiệp
1.1.1. Trồng trọt
Kết quả sản xuất vụ Đông 2025
Sản xuất cây hàng năm vụ Đông năm 2025 trên địa bàn diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, về cơ bản đã đạt kế hoạch về diện tích, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế góp phần tăng trưởng chung cho ngành nông nghiệp của tỉnh. Từ đầu vụ các HTX dịch vụ nông nghiệp đã chủ động trong công tác tưới tiêu đảm bảo đủ lượng nước trong quá trình sản xuất, đồng thời liên kết với các doanh nghiệp để hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm cho bà con nông dân. Nhiều tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất như giống, phân bón, kỹ thuật canh tác, công nghệ khoa học được áp dụng rộng rãi đặc biệt là cơ giới hóa.
Kết quả sản xuất cây vụ Đông năm 2025 tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh là 36.272 ha, giảm 942,7 ha (-2,58%), cơ cấu gieo trồng chuyển dịch theo hướng tăng diện tích các loại cây trồng có  giá trị kinh tế cao, thị trường tiêu thụ ổn định và tập trung với cây trồng chủ yếu như: ngô, khoai tây, rau các loại,...
Gieo trồng vụ Xuân 2025 Theo tiến độ của Sở NN&PTNT tính đến ngày 27/3/2025, tổng diện tích lúa Xuân toàn tỉnh đã cấy 73.936 ha đạt 100% kế hoạch. Vụ Xuân năm 2025 tỉnh vẫn tập trung chỉ đạo khuyến khích mở rộng diện tích áp dụng biện pháp gieo mạ khay, cấy máy và sản xuất lúa theo hướng
Gieo trồng vụ Xuân 2025 Theo tiến độ của Sở NN&PTNT tính đến ngày 27/3/2025, tổng diện tích lúa Xuân toàn tỉnh đã cấy 73.936 ha đạt 100% kế hoạch. Vụ Xuân năm 2025 tỉnh vẫn tập trung chỉ đạo khuyến khích mở rộng diện tích áp dụng biện pháp gieo mạ khay, cấy máy và sản xuất lúa theo hướng hữu cơ, sử dụng các giống có tiềm năng năng suất, chất lượng gạo ngon, các giống có khả năng chống chịu với các đối tượng sâu bệnh, các giống chuyển gen kháng bệnh (bạc lá, đạo ôn, cổ bông). Tiếp tục chỉ đạo, tuyên truyền, hướng dẫn các địa phương chăm bón, bảo vệ cây lúa, tổ chức diệt chuột, phòng, trừ sâu bệnh các loại bảo vệ sản xuất, thực hiện tốt công tác quản lý giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, tạo thuận lợi tốt nhất cho sản xuất vụ Xuân.

Gieo trồng cây màu vụ Xuân: Toàn tỉnh đang tích cực tranh thủ xuống đồng thu hoạch diện tích cây màu đã đến kỳ thu hoạch, đẩy nhanh tiến độ gieo trồng và chăm sóc cây màu vụ Xuân. Tính đến ngày 27/3/2025, diện tích cây màu xuân đã trồng 14.985 ha, đạt 99,9% kế hoạch đề ra cao hơn 4,8% so với cùng kỳ năm 2024. Diện tích cây màu Xuân đã thu hoạch 5.855 ha đạt 39% diện tích cây màu Xuân đã trồng chủ yếu rau màu các loại.
Giá trị sản xuất nông nghiệp quý I/2025 (theo giá so sánh 2010) ước đạt 5.216 tỷ đồng, tăng 1,73% so với cùng kỳ.
1.1.2. Chăn nuôi
Sản xuất chăn nuôi theo hướng dẫn đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu đàn vật nuôi theo hướng tăng tỷ lệ các giống cao sản, nuôi thương phẩm, chất lượng con giống nuôi được nâng cao; duy trì cơ cấu đàn vật nuôi sinh sản hợp lý về số lượng và đảm bảo về chất lượng. Công tác tuyên truyền, chuyển giao và ứng dụng khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ cao vào sản xuất chăn nuôi được đẩy mạnh, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả hoạt động chăn nuôi.
Chăn nuôi gia súc: Tổng đàn trâu, bò tại thời điểm 01.01.2025 ước đạt 59,6 nghìn con, giảm 0,1% so với cùng kỳ; trong đó đàn trâu ước đạt 7,2 nghìn con, tăng 0,4%; đàn bò ước đạt 52,4 nghìn con, giảm 0,2% so với cùng kỳ năm trước.
Sản lượng thịt trâu, bò hơi xuất chuồng quý I/2025 ước đạt 2.842 tấn, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước; trong đó sản lượng thịt trâu ước đạt 248 tấn, tăng 3,3%; sản lượng thịt bò ước đạt 2.594 tấn, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước.

Chăn nuôi lợn: Qúy I năm 2025, tình  hình dịch bệnh được kiểm soát tốt, không có dịch bệnh lớn xảy ra. Giá thức ăn chăn nuôi vẫn giữ ở mức cao, giá lợn hơi từ sau tết nguyên đán đến nay ổn định từ 68-72 nghìn đồng/kg, người nuôi phần nào yên tâm tái đàn. Ngành chăn nuôi tiếp tục hướng dẫn và khuyến cáo người nuôi thận trọng khi tái đàn, không nóng vội tái đàn khi chưa bảo đảm điều kiện cần thiết.
Tổng đàn lợn tại thời điểm tháng 01.01.2025 ước đạt 705,8 nghìn con, giảm 0,6% so với cùng kỳ.
Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng quý I/2025 ước đạt 43 nghìn tấn, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước.
Chăn nuôi gia cầm : Trong quý I/2025 tình hình thời tiết ổn định, dịch bệnh ít, số lượng đàn gia cầm duy trì phát triển tốt.
Ước tính tổng đàn gia cầm thời điểm 01.01.2025 đạt 14,7 triệu con, tăng 1% so với cùng kỳ; trong đó, số lượng đàn gà đạt 10,5 triệu con, tăng 0,9%; số lượng đàn vịt đạt 3 triệu con, tăng 1,5% so với cùng kỳ.
 Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng quý I/2025 ước đạt 14,9 nghìn tấn, tăng 3,8%; trong đó, sản lượng thịt gà hơi xuất chuồng ước đạt 11,5 nghìn tấn, tăng 4% so với cùng kỳ.
Sản lượng trứng gia cầm quý I/2025 ước đạt 101 triệu quả, tăng 3,5%; trong đó sản lượng trứng gà, ước đạt 48,7 triệu quả, tăng 2,8% so với quý I/2024.
Giá trị sản xuất chăn nuôi quý I/2025 (giá so sánh 2010) ước đạt 2.357 tỷ đồng, tăng 3,93% so với cùng kỳ năm trước.
1.1.3. Hoạt động dịch vụ nông nghiệp
Dịch vụ Nông nghiệp quý I/2025 phát triển đạt kết quả khá, diện tích được cơ giới hóa 100% khâu làm đất và 80% khâu thu hoạch.
Giá trị sản xuất dịch vụ nông nghiệp (theo giá so sánh 2010) quý I/2025 ước đạt 26 tỷ đồng, tăng 2,64% so với cùng kỳ năm 2024.
1.2. Lâm nghiệp
Hưởng ng tết trng cây xuân Ất Tỵ năm 2025, toàn tỉnh đã trồng được 1.381 nghìn cây nhân dân nội đồng.
Trong quý I năm 2025 chưa có diện tích trồng rừng mới bổ sung. Sản lượng gỗ khai thác quý I/2025 ước đạt 372 m3, tăng 0,1%; sản lượng củi khai thác ước đạt 1.761 ste, tăng 1,3%; Số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 558 nghìn cây, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước.
Giá trị sản xuất lâm nghiệp quý I/2025 (theo giá so sánh 2010) ước đạt 2,6 tỷ đồng, tăng 0,06% so với cùng kỳ năm trước.
1.3. Thuỷ sản
Tình hình nuôi trồng thủy sản trong quý I/2025 của tỉnh ổn định. Việc nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh đã áp dụng mô hình nuôi thủy sản theo hướng kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ mới vào sản xuất nhằm tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm nước, giảm phát thải khí nhà kính, thân thiện với môi trường, có khả năng chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu nâng cao năng suất, chất lượng góp phần phát triển nuôi thủy sản bền vững.
Tổng sản lượng thủy sản quý I/2025 ước đạt 70 nghìn tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 26,6 nghìn tấn, tăng 3,4%; tôm đạt 0,7 nghìn tấn, tăng 2,4%; thuỷ sản khác đạt 42,7 nghìn tấn, tăng 3%.
Khai thác
Sản lượng thủy sản khai thác quý I/2025 ước đạt 27,6 nghìn tn, tăng 3,3% so vi cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 16,6 nghìn tn, tăng 3,6%; tôm đạt 0,4 nghìn tn, tăng 2,4%; thy sn khác đạt 10,6 nghìn tn, tăng 2,8%.
Nuôi trồng
Sản lượng thủy sản nuôi trồng quý I/2025 ước đạt 42,4 nghìn tn, tăng 3,1% so vi cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 10 nghìn tn, tăng 3,1%; tôm đạt 0,3 nghìn tn, tăng 2,3%; thy sn khác đạt 32,1 nghìn tn, tăng 3,1%.
Giá trị sản xuất thủy sản quý I/2025 (theo giá so sánh 2010) ước đạt 1.271 tỷ đồng, tăng 3,01% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung quý I/2025 Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản (theo giá so sánh 2010) ước đạt 6.489 tỷ đồng, tăng 1,98% so với cùng kỳ năm 2024.

2. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP)
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 3/2025 ước tính tăng 12,86% so với tháng 02/2025. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 5,02%; công nghiệp chế biến chế tạo tăng 5,26%; ngành cung cấp nước, hoạt động và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,17%.
Tính chung quý I năm 2025, (IIP) ước tăng 11,52% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 17,41%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 14,90%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 3,38%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,80%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I năm 2025 của một số ngành thuộc ngành công nghiệp cấp II tăng cao so với cùng kỳ năm trước gồm: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và sản phẩm quang học tăng 166,83%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 53,03%; Sản xuất kim loại tăng 32,59%; Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 31,24%... Bên cạnh đó, chỉ số (IIP) một số ngành giảm so với cùng kỳ năm trước như là: sản xuất đồ uống giảm 82,32%; In, sao chép bản ghi các loại giảm 16,79%; Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 11,57%...
Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010):
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 3/2025 ước đạt 7.504 tỷ đồng, tăng 15.99% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo thành phần kinh tế: Kinh tế Nhà nước ước đạt 1.437 tỷ đồng, tăng 20,68% (chiếm 19,15%) giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh); Kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 4.319 tỷ đồng, tăng 2,97% (chiếm 57,56%); Kinh tế đầu tư nước ngoài ước đạt 1.748 tỷ đồng, tăng 61,26% (chiếm 23,29%). Phân theo ngành công nghiệp: Công nghiệp khai thác mỏ tháng 3/2025 ước đạt 24 tỷ đồng, giảm 3,92% so với cùng kỳ năm trước; Công nghiệp chế biến, chế tạo ước đạt 6.320 tỷ đồng, tăng 17,31%; Sản xuất truyền tải và phân phối điện ước đạt 1.131 tỷ đồng, tăng 10,2%; Cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải đạt 28 tỷ đồng, giảm 5,89%.
Tính chung quý I năm 2025, giá trị sản xuất công nghiệp (giá so sánh 2010) ước đạt 24.759 tỷ đồng, tăng 19,95% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo thành phần kinh tế: Kinh tế Nhà nước ước đạt 4.073 tỷ đồng, tăng 6,38%; Kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 15.585 tỷ đồng, tăng 24,48%; Kinh tế đầu tư nước ngoài ước đạt 5.101 tỷ đồng, tăng 18,85%. Phân theo ngành công nghiệp: Công nghiệp khai thác mỏ ước đạt 65 tỷ đồng, tăng 10,67% so với cùng kỳ năm trước; Công nghiệp chế biến, chế tạo ước đạt 21.644 tỷ đồng, tăng 22,53%; Sản xuất truyền tải và phân phối điện ước đạt 2.958 tỷ đồng, tăng 4,21%; Cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải đạt 95 tỷ đồng, tăng 15,34%.
Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu
Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tháng 3 năm 2025 có tốc độ tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Tấm lát đường và vật liệu lát, ốp lát (+55,28%); Sắt thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác (+46,49%); Cấu kiện nhà lắp sẵn bằng kim loại (+36,5%); Túi khí an toàn (+34,45%); Gạch xây bằng đất nung (+25,79%)…..Tuy nhiên trong tháng 3 năm 2025 có một số sản phẩm giảm như: Bia dạng lon (-84,36%); Loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa (-76,35%)…..
Quý 1 năm 2025, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu có tốc độ tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Tấm lát đường và vật liệu lát, ốp lát (+72,17%); Cấu kiện nhà lắp sẵn bằng kim loại (+45,79%); Túi khí an toàn (+34,45%)…..Tuy nhiên có một số sản phẩm giảm như: Bia dạng lon (-82,32%); Loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa  (-71,44%)…..
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3/2025 tăng 8,54% so với tháng trước và tăng 6,82% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý 1 năm 2025, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,06% so với cùng kỳ (cùng kỳ năm 2024 tăng 2,36%).
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 31/3/2025 tăng 3,44% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 15,63% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm trước giảm 18,82%).
 Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/3/2025 tăng 12,81% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 11,76% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó:
+ Lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 3,15% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 0,7% so với cùng thời điểm năm trước; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 9,5% và tăng 8,94%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,3% và tăng 15,51%.
+ Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 5,06% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 13,04% so với tháng trước và tăng 11,97% so với cùng thời điểm năm trước; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 6,34% so với tháng trước và tăng 5,84% so với cùng thời điểm năm trước; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,19% so với tháng trước và giảm 1,15% so với cùng thời điểm năm trước.
Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp
Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I năm 2025 cho thấy: Có 23,03% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn so với quý IV năm 2024; 47,27% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 29,7% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn. Dự kiến quý II năm 2025, có 50,3% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên so với quý I năm 2025; 41,82% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định và 7,88% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn. Trong đó, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước lạc quan nhất với 55,7% số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh quý II năm 2025 tốt lên và khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 32,43%; doanh nghiệp nhà nước là 50%.
Về khối lượng sản xuất, có 23,03% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý I năm 2025 tăng lên so với quý IV năm 2024; 47,88% số doanh nghiệp cho rằng ổn định và 29,09% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm. Xu hướng quý II năm 2025 so với quý I năm 2025, có 49,7% số doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng; 43,64% số doanh nghiệp dự báo ổn định và 6,67% số doanh nghiệp dự báo giảm đi.
Về đơn đặt hàng, có 24,53% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng quý I năm 2025 cao hơn quý IV năm 2024; 50,94% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định và 24,53% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng giảm. Xu hướng quý II năm 2025 so với quý I năm 2025, có 51,27% số doanh nghiệp dự kiến có đơn đặt hàng tăng lên; 43,04% số doanh nghiệp dự kiến đơn đặt hàng ổn định và 4,24% số doanh nghiệp dự kiến có đơn đặt hàng giảm đi.
Về đơn đặt hàng xuất khẩu, quý I năm 2025 so với quý IV năm 2024, có 24,32% số doanh nghiệp khẳng định số đơn hàng xuất khẩu mới cao hơn; 45,05% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu mới ổn định và 30,63% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu mới giảm. Xu hướng quý II năm 2025 so với quý I năm 2025, có 52.68% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu mới; 41,07% số doanh nghiệp dự kiến ổn định và 6,25% số doanh nghiệp giảm đi.
3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp
Trong tháng 3 năm 2025, tỉnh Thái Bình có 152 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đầu tư là 726 tỷ đồng và số lao động đăng ký là 1.258 người. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp trong tháng là 4,78 tỷ đồng. Bên cạnh đó, trong tháng có 24 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động.
Tính chung quý 1 năm 2025, toàn tỉnh có 379 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đầu tư là 2.213 tỷ đồng và số lao động đăng ký là 6.575 người. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp trong tháng là 5,84 tỷ đồng, 101 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động.
Theo khu vực kinh tế, có 01 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản với tổng số vốn đầu tư là 9 tỷ đồng và số lao động đăng ký là 3 người; có 115 doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng với tổng số vốn đầu tư là 1.269 tỷ đồng và 5.621 lao động đăng ký; có 263 doanh nghiệp thuộc khu vực thương mại dịch vụ, với tổng số vốn đăng ký là 935 tỷ đồng và 951 lao động đăng ký.
Cũng trong quý I năm 2025, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 323 doanh nghiệp; 50 doanh nghiệp ngừng hoạt đọng chờ giải thể.
4. Đầu tư – xây dựng
4.1. Đầu tư
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước tháng 3/2025 ước đạt 766,9 tỷ đồng, tăng 8,1% so với tháng trước và tăng 41,3% so với cùng kỳ năm 2024; trong đó: vốn Ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 389,4 tỷ đồng, tăng 83,17% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 256,1 tỷ đồng, tăng 16,25%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 121,3 tỷ đồng, tăng 10,51% so với cùng kỳ năm trước.
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước quý 1 năm 2025 ước đạt 2.148,4 tỷ đồng tăng 42,3% so với cùng kỳ năm 2024; trong đó: vốn Ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.085,1 tỷ đồng, tăng 82% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 721,3 tỷ đồng, tăng 17%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 342 tỷ đồng, tăng 15% so với cùng kỳ.
     Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn theo giá hiện hành quý I/2025 ước đạt 14.838 tỷ đồng, tăng 10,61% so cùng kỳ. Trong đó: Vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước ước đạt 2.148 tỷ đồng, tăng 3,87%; vốn đầu tư của dân cư và tư nhân ước đạt 8.147 tỷ đồng, tăng 3,15%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 3.486 tỷ đồng, tăng 31,08% so với cùng kỳ năm 2024.
Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào tỉnh Thái Bình tính đến 20/3/2025: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh bổ sung đạt 156.564 nghìn USD.


+ Vốn đăng ký cấp mới có 17 dự án được cấp phép với tổng số vốn đăng ký 147.177 nghìn USD. Các dự án cấp phép mới đều thuộc ngành công nghiệp chế biến chế tạo. Trong số 7 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án được cấp phép đầu tư mới vào Thái Bình trong quý 1 năm 2025, Trung Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 2 dự án đạt tổng số vốn đăng ký là 71.400 nghìn USD chiếm 48,51% tổng số vốn đăng ký mới, tiếp đến là Đan Mạch với 1 dự án đạt tổng số vốn đăng ký là 19.000 nghìn USD chiếm 12,91% tổng số vốn đăng ký mới.
Một số dự án trọng điểm đầu tư khởi công mới trong quý 1 năm 2025
Dự án nhà máy công nghệ chất thái rắn phát điện công nghệ hiện đại của Công ty cổ phấn đầu tư và phát triển Dragonventures liên doanh với Công ty cổ phần môi trường WangNeng có vốn đầu tư 1.560 tỷ đồng; dự án đặt trụ sở tại xã Thụy Trình, huyện Thái Thụy có Công suất xử lý 600 tấn và phát điện 15MW, áp dụng Công nghệ tiên tiến hàng đầu thế giới, được quy hoạch trên diện tích 59.955 m². Với hệ thống xử lý các nguồn thải đồng bộ hiện đại nhằm thay thế các công nghệ thô sơ đang áp dụng và cải tạo khu vực xử lý rác hiện có đang bị ô nhiễm tại xã Thụy Trình, Thái Thụy;
Dự án công nghệ may Spectre Thái Bình của nhà đầu tư Spectre Real Etste A/S, sản xuất các sản phẩm may mặc công suất 2 triệu sản phẩm/năm, có vốn đầu tư 477 tỷ đồng;
Dự án đầu tư Công ty TNHH Vina Tex Việt Nam của Nhà đầu tư TNHH tư nhân Daoda Singapore, sản xuất các snar phẩm may mặc xuất khẩu, có tổng vốn đầu tư 250 tỷ đồng;
Dự án nhà máy Sunchahousehold Việt Nam của Nhà đầu tư Singapore Maison Houseware Pte. Ltd, sản xuất thớt, hộp đựng dụng cụ nhà bếp bằng tre, có vốn đầu tư 79 tỷ đồng;
Dự án công ty Vtrek Việt Nam của Nhà đầu rư Vtreck Group Intrernational, đặt trụ sở tại Lô B2, Khu công nghiệp Liên Hà Thái , Thị Trấn Diêm Điền, Huyện Thái Thụy, sản xuất bộ loa, hộp vệ sinh thông minh, thiét bị cho ăn uống tự động cho thú cưng, có vốn đầu tư 76.3 tỷ đồng;
Dự án nhà máy sản xuất các sản phẩm kim loại Prosun Việt nam của Công ty TNHH công nghệ Prosun Việt nam đặt trụ sở tại Khu Công nghiệp Phúc Khánh, đường Trần Thị Dung, Khu Công nghiệp Phúc Khánh, Thành phố Thái Bình, chuyên rèn, dập, ép và cán kim loại; luyện bột kim loại, có tổng vốn đầu tư 43 tỷ đồng;
Dự án Công ty Winsdom Metal Composite Của Nhà đầu tư Winsdom Metal Composite, Sản xuất tấm ốp nhôm nhựak phức hợp, tấm ốp hông xe ô tô, tấm ốp thép nhựa phức hợp, có vốn đầu tư 41 tỷ đồng;
 Dự án Công ty Fastech (Việt Nam) Electric Corporation của nhà đầu tư Fastech Electric Corporation, đặt trụ sở tại Lô B2, Khu công nghiệp Liên Hà Thái , Thị Trấn Diêm Điền, Huyện Thái Thụy, có tổng vốn đàu tư 33 tỷ đồng, sản xuất dao cắt bằng điện, sản xuất máy rung làm sạch và đánh bóng bằng kim loại;
Dự án UNIRISE ELECTRONICS (VIỆT NAM) của nhà đầu tư Uniwin Electronics (HK) Co, Limited, có vố đầu tư 30.6 tỷ đồng, sản xuất dây điện, dây nguồn một chiều, dây nguồn xoay chiều, dây cáp dữ liệu;
Dự án Nhà máy K- Mart VN của nhà đầu tư Bright Forward Technology- Hồng Kong, có vốn đầu tư 30,5 tỷ đồng, sản xuất gia công tai nghe, bộ đàm, máy ảnh, kính thiên văn, túi sạc năng lượng mặt trời, đồ chơi;
 Dự án sản xuất vật liệu mới Kleber của nhà đầu tư Kleber New Material Technology đặt trụ sở tại Lô B2, Khu công nghiệp Liên Hà Thái (Green iP-1), Thị Trấn Diêm Điền, Huyện Thái Thụy, có vốn đầu tư 28 tỷ đồng, SX lá chắn kim loại, tấm dẫn nhiệt, vải bọc dẫn điện;
Dự án dầu tư nhà máy chế tạo chi tết các sản phẩm dân dụng từ kim loại của nhà đầu tư Sharpenex International PTE.LTD, có vốn đầu tư 6 tỷ đồng, sản xuấtcá dụng cụ bằng kim loại… 
4.2. Xây dựng
Giá trị xây dựng quý I/2025 (theo giá so sánh 2010) ước đạt 7.609 tỷ đồng, tăng 6,55% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó: Theo loại hình, doanh nghiệp nhà nước ước đạt 38 tỷ đồng, giảm 78,56%; doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 3.973 tỷ đồng, tăng 11,86%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 88 tỷ đồng, tăng 199,81%; loại hình khác ước đạt 3.510 tỷ đồng, tăng 3,8%, trong đó của hộ dân cư là 3.431 tỷ đồng, tăng 4,62%. Theo loại công trình, công trình nhà ở ước đạt 3.317 tỷ đồng, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm 2024; công trình nhà không để ở ước đạt 1.666 tỷ đồng, tăng 96,19%; công trình kỹ thuật dân dụng ước đạt 2.499 tỷ đồng, giảm  4,93%; hoạt động xây dựng chuyên dụng ước đạt 126 tỷ đồng, giảm 59,02%.
Một số dự án trọng điểm đầu tư khởi công mới:
Dự án đầu tư sản xuất đồ dùng thể thao Li Hong Việt Nam, tổng mức đầu tư 200 tỷ đồng, thời gian khởi công vào quý IV năm 2023; bắt đầu đi vào hoạt động quý II năm 2024;
Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng CCN Đức Hiệp, tổng mức đầu tư 427,8 tỷ đồng; Bắt đầu hoạt động giai đoạn I vào quý III/2024;
Dự án Công ty Compal Việt Nam, tổng mức đầu tư 6.466,6 tỷ đồng. Khởi công tháng 2 năm 2024;
Dự án nhà máy sản xuất rượu Soju tại Việt Nam, tổng mức đầu tư 2.439 tỷ đồng, khởi công tháng 1 năm 2024;
Dự án Công ty TNHH công nghệ Goodway Việt Nam, tổng mức đầu tư 1.053 tỷ đồng, khởi công tháng 1 năm 2024;
Dự án Công ty TNHH Xuli Cargo Control VN, tổng mức đầu tư 502,3 tỷ đồng, khởi công tháng 1 năm 2024;
Dự án nhà máy Keystone Electrical VN, tổng mức đầu tư 980 tỷ đồng, khởi công tháng 1 năm 2024;
Dự án sản xuất đế giầy YulongVN, tổng mức đầu tư 63,6 tỷ đồng, khởi công tháng 1 năm 2024, ước quý IV năm 2024 đạt 30 tỷ đồng;
Dự án đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất thiết bị vệ sinh Dali Việt Nam, tổng mức đầu tư 235,6 tỷ đồng, khởi công tháng 1 năm 2024, dự tính quý IV năm 2024 ước đạt 30 tỷ đồng;
Dự án công ty THHH Ssangsol Vina, tổng mức đầu tư 598,8 tỷ đồng, khởi công tháng 7 năm 2024, ước quý IV năm 2024 đạt 120 tỷ đồng;
Dự án công ty TNHH CJVNM tổng mức đầu tư 177 tỷ đồng, khởi công tháng 6 năm 2024, ước thực hiện quý IV năm 2024 đạt 40 tỷ đồng;
Dự án đầu tư xây dựng dự án sản xuất các sản phẩm thùng bìa catong – Tân Phú, tổng mức đầu tư 219,6 tỷ đồng, khởi công tháng 6 năm 2024, ước thực hiện quý IV năm 2024 đạt 50 tỷ đồng;
Dự án đúc, gia công hợp kim và lắp ráp dụng cụ điện, tổng mức đầu tư 141 tỷ đồng, khởi công tháng 9 năm 2024, ước thực hiện quý IV năm 2024 đạt 40 tỷ đồng;
Dự án xây dựng linh kiện điện tử, máy tính láp tốp, tổng mức dự án 195 tỷ đồng, khởi công tháng 2 năm 2024, ước thực hiện quý IV năm 2024 đạt 20 tỷ đồng;
Dự án Cụm Công nghiệp Tân Minh giai đoạn 2, tổng mức dự án 205 tỷ đồng, khời công tháng 1 năm 2024;
5. Thương mại, dịch vụ và giá cả
Sau Tết Nguyên đán, nhu cầu tiêu dùng của người dân trở lại trạng thái bình thường, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 3/2025 tăng 2,1% so với tháng trước và tăng 18,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó có sự đóng góp tích cực của ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ tiêu dùng khác.
5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng 3/2025 ước đạt 7.571 tỷ đồng, tăng 2,1% so với tháng trước và tăng 18,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 6.589 tỷ đồng, tăng 1,9% và tăng 17,6%; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 590 tỷ đồng, tăng 4,9% và tăng 27,8%; du lịch lữ hành đạt 2,6 tỷ đồng, tăng 3,4% và tăng 28,4%; dịch vụ khác đạt 390 tỷ đồng, tăng 1,5% và tăng 19,9%.
Biểu 1: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành
                                                                                                                        ĐVT: Tỷ đồng
  Ước tính tháng 3 năm 2025 Ước tính
Quý I   năm 2025
Tốc độ tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)
  Tháng 3 năm 2025 Quý I    năm 2025
 
Tổng số 7.571 22.898  18,5  15,8
Bán lẻ hàng hóa 6.589  20.036    17,6    14,9
Dịch vụ lưu trú, ăn uống    590    1.687   27,8    27,3
Du lịch lữ hành    2,6    7,1   28,4      2,5
Dịch vụ khác    390    1.168    19,9     17,2
Tính chung quý I năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 22.898 tỷ đồng, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm trước tăng 16,8%).

Doanh thu bán lẻ hàng hóa quý I năm 2025 ước đạt 20.036 tỷ đồng, chiếm 87,5% tổng mức và tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước, do nhu cầu tiêu dùng tăng và giá cả một số hàng hóa tăng. Trong đó, nhóm lương thực, thực phẩm tăng 22,1%; hàng may mặc tăng 16,2%; xăng dầu các loại tăng 12,4%; nhiên liệu khác tăng 20,2%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 7,7%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 19,3%; sửa chữa xe có động cơ tăng 20,2%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 33%; hàng hóa khác tăng 14,1%,…
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành quý I năm 2025 ước đạt 1.694 tỷ đồng, chiếm 7,4% tổng mức và tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước, do những tháng đầu năm nhu cầu du xuân, thăm quan, lễ hội của người dân tăng cao, hoạt động trải nghiệm của học sinh các cấp tập trung vào tháng ba, bên cạnh đó trong quý có nhiều ngày lễ như 08/3, 20/3, 26/3,… góp phần tăng doanh thu hoạt động dịch vụ. Trong đó doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 52 tỷ đồng, tăng 18,6%; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 1.635 tỷ đồng, tăng 27,6%; doanh thu dịch vụ lữ hành ước đạt 7,1 tỷ đồng, tăng 2,5%.
Doanh thu dịch vụ khác quý I năm 2025 ước đạt 1.168 tỷ đồng, chiếm 5,1% tổng mức và tăng 17,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Bất động sản tăng 10,8% do lãi suất ngân hàng giảm, giá vàng tăng cao, nhiều nhà đầu tư chuyển sang bất động sản, nhiều công trình được khởi công trên đất nền và nhà liền kề mở bán; dịch vụ hành chính và hỗ trợ tăng 11,1% chủ yếu do doanh thu cho thuê máy móc thiết bị tăng do nhu cầu thuê thuê phông bạt phục vụ hiếu hỷ tăng và giá dịch vụ tăng; dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 7,6%; dịch vụ y tế tăng 15,1% do thời tiết thay đổi, dịch bệnh tăng cao; dịch vụ nghệ thuật vui chơi và giải trí tăng 18,5% chủ yếu do đóng góp của hoạt động xổ số và  dịch vụ vui chơi giải trí tăng cao; dịch vụ khác tăng 30% do dịch vụ sủa chữa và hoạt động phục vụ cá nhân và gia đình tăng.
5.2. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3 năm 2025 giảm 0,18% so với tháng trước, tăng 1,14% so với tháng 12/2024, tăng 1,80% so với cùng kỳ năm trước. Trong mức giảm 0,18% của CPI tháng 3/2025 so với tháng trước, có 03 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm, 01 nhóm hàng có chỉ số giá tăng, còn lại 07 nhóm hàng có chỉ số giá ổn định so với tháng trước.
Ba nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm gồm: Nhóm giao thông giảm 1,75% tác động làm CPI chung giảm 0,12 điểm phần trăm, tác động chủ yếu ở giá nhiên liệu giảm 3,72%; trong đó giá xăng giảm 3,78%, giá dầu diezel giảm 4,42%, tác động từ điều chỉnh giá của Bộ Công thương. Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,16% do giá điện sinh hoạt giảm 0,93%; giá dầu hỏa giảm 5,29% do ảnh hưởng từ các đợt điều chỉnh giá trong tháng.  Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,05% tác động làm CPI chung giảm 0,13 điểm phần trăm, trong đó thực phẩm tăng nhẹ 0,13% tác động làm CPI chung tăng 0,14%; ăn uống ngoài gia đình giảm 0,95% do ảnh hưởng giảm từ tháng trước. Ngược lại nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,01% do giá đồ trang sức tăng 3,47%, tăng theo giá vàng.

Bình quân quý I  năm 2025, CPI tăng 2,14% so với bình quân cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 2 nhóm hàng giảm giá gồm nhóm giao thông (-3,25%); nhóm bưu chính viễn thông (-0,53%); còn lại 9/11 nhóm hàng có CPI bình quân tăng gồm: Nhóm hàng hóa và dich vụ khác (+7,96%), tác động làm CPI tăng 3,61 điểm phần trăm, chủ yếu do giá đồ trang sức tăng, tác động trực tiếp từ giá vàng tăng. Nhóm thuốc và dịch vụ y tế (+6,33%) tác động làm tăng CPI tăng 4,0 điểm phần trăm do áp dụng tăng giá khám chữa bệnh và các dịch vụ khám bệnh từ Bộ Y tế tháng 12/2024. Nhóm giáo dục (+5,58%) do địa phương tăng giá học phí tháng 9,10 năm 2024, tác động làm CPI tăng 2,97 điểm phần trăm. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (+2,95%) tác động làm CPI tăng 0,80 điểm phần trăm, chủ yếu do gạo địa phương nguồn cung sụt giảm nhu cầu tiêu dùng tăng cao, tại thời điểm cuối tháng một, đầu tháng hai, hầu hết giá đồ ăn, uống ngoài gia đình đều áp dụng tăng giá trong 15 ngày tết. Nhóm đồ uống và thuốc lá (+2,72%) tác động làm CPI tăng 0,67 điểm phần trăm. Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD (+1,22%) do tác động từ chính sách cấm khai thác và hạn chế đi lại tàu bè của địa phương từ cuối tháng 12/2024 đẩy giá cát đá tăng cùng điều chỉnh tăng giá sắt thép của nhà phân phối, tác động làm CPI tăng 2,80 điểm phần trăm. Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép (+0,43%) tác động làm CPI tăng 0,23 điểm phần trăm. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình (+0,08%) tác động làm CPI tăng 0,05 điểm phần trăm. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch (+0,05%) động làm CPI tăng 0,01 điểm phần trăm.
Chỉ số giá vàng tháng 3/2025 tăng 5,35% so với tháng trước, tăng 11,14% so với tháng 12/2024 và tăng 38,20% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân quý I năm 2025, chỉ số giá vàng tăng 37,09%.
Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2025 tăng 1,42% so với tháng trước, tăng 1,92% so với tháng 12/2024 và tăng 2,74% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân quý I năm 2025, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,69%.
5.3. Xuất, nhập khẩu hàng hoá
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa tháng 3/2025 ước đạt 384 triệu USD, tăng 4,9% so với tháng trước và tăng 7,5% so với cùng kỳ. Tính chung quý I năm 2025, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 1.118 triệu USD, tăng 7,1% so với cùng kỳ, trong đó xuất khẩu tăng 10,1%, nhập khẩu tăng 2,9%. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 222 triệu USD.

Xuất khẩu hàng hóa:
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 3/2025 ước đạt 221 triệu USD, tăng 3,7% so với tháng trước, do đầu năm đơn hàng xuất chưa cao. Trong đó: khu vực kinh tế tư nhân đạt 124 triệu USD, tăng 4,3%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 97 triệu USD, tăng 2,9%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng ba tăng 6,8%, trong đó khu vực kinh tế tư nhân tăng 4,8%, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 9,4%.
Biểu 2: Giá trị một số mặt hàng xuất khẩu quý I năm 2025
  Giá trị Tốc độ tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)
  (Triệu USD)
Các mặt hàng đạt giá trị trên 20 triệu USD    
Hàng dệt, may 313,8  8,1
Giày dép các loại   87,0 22,6
Xơ, sợi dệt các loại   30,5 -26,2
Phương tiện vận tải và phụ tùng   31,8  10,9
Tính chung quý I năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 670 triệu USD, tăng 10,1% so với cùng kỳ; trong đó: Kinh tế tư nhân đạt 368 triệu USD, tăng 7,1%, chiếm 55% tổng kim ngạch xuất khẩu; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 302 triệu USD, tăng 13,9%, chiếm 45%. Trong quý I năm 2025, có 4 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 20 triệu USD, chiếm 69,1% tổng kim ngạch xuất khẩu (trong đó riêng hàng dệt may chiếm 46,8% tổng kim ngạch).
Nhập khẩu hàng hóa:
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 3/2025 ước đạt 163 triệu USD, tăng 6,6% so với tháng trước. Trong đó: Kinh tế tư nhân đạt 76 triệu USD, tăng 1,3%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 87 triệu USD, tăng 11,8%. So với cùng kỳ năm trước kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Ba tăng 8,5%, trong đó khu vực kinh tế tư nhân tăng 4%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 12,7%.
Tính chung quý I năm 2025, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 448 triệu USD, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế tư nhân đạt 208 triệu USD, tăng 1,6%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 240 triệu USD, tăng 4%.
Trong quý I năm 2025 có 4 mặt hàng nhập khẩu đạt giá trị trên 20 triệu USD, chiếm tỷ trọng 71,6% tổng kim ngạch nhập khẩu (trong đó vải các loại chiếm 34,5%) tổng kim ngạch.
Biểu 3: Giá trị một số mặt hàng nhập khẩu quý I năm 2025
  Giá trị Tốc độ tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)
  (Triệu USD)
Các mặt hàng đạt giá trị trên 20 triệu USD    
Vải các loại 154,4  8,8
Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày   94,0  1,6
Phế liệu sắt thép   42,6 -26,3
Xơ, sợi dệt các loại   29,2  -0,8
Cán cân thương mại hàng hóa tháng 3/2025 xuất siêu 58 triệu USD. Tính chung quý I năm 2025, cán cân thương mại hàng hóa sơ bộ xuất siêu 222 triệu USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 174 triệu USD). Trong đó khu vực kinh tế tư nhân xuất siêu 160 triệu USD, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 62 triệu USD.
5.4. Hoạt động vận tải
Hoạt động vận tải tháng 3/2025 duy trì ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại của người dân và vận chuyển hàng hóa phục vụ sản xuất kinh doanh. Doanh thu hoạt động vận tải tháng 3/2025 tăng 1,9% so với tháng trước và tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2025, doanh thu hoạt động vận tải tăng 16,3% so với cùng kỳ, trong đó vận tải hành khách tăng 20,7%, vận tải hàng hóa tăng 14,3%.

Vận tải hành khách
Hoạt động vận tải hành khách tháng Ba giảm so với tháng trước do tháng trước trùng với dịp tết Nguyên đán nên chu cầu đi lại của người dân tăng. Khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 3,5 triệu lượt khách, giảm 1,6% so với tháng trước và tăng 17,6% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 389 triệu lượt khách.km, giảm 2,1% và tăng 17%; doanh thu ước đạt 258 tỷ đồng, giảm 2,3% và tăng 17,8%. Tính chung quý I năm 2025, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 10,5 triệu lượt khách, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 1.184 triệu lượt khách.km, tăng 19,7%; doanh thu ước đạt 786 tỷ đồng, tăng 20,7%.
Biểu 4: Vận tải hành khách quý I năm 2025 phân theo ngành vận tải
  Số lượt hành khách Tốc độ tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)
  Vận chuyển Luân chuyển Vận chuyển Luân chuyển
  (Triệu HK) (Triệu HK.km)
Tổng số 10,5 1.184,0 19,9 19,7
Đường bộ 9,5 1.183,3 19,6 19,7
Đường thủy 1,0       0,7 22,5 22,8
Vận tải hàng hoá
Khối lượng vận chuyển hàng hóa tháng Ba ước đạt 3,6 triệu tấn, tăng 3,6% so với tháng trước và tăng 16,3% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 1.296,8 triệu tấn.km, tăng 4% và tăng 21,6%; doanh thu ước đạt 576 tỷ đồng, tăng 3,9% và tăng 15,2%. Tính chung quý I năm 2025, khối lượng vận chuyển hàng hóa ước đạt 10,7 triệu tấn, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 3.886,6 triệu tấn.km, tăng 20,4%; doanh thu ước đạt 1.722 tỷ đồng, tăng 14,3%.
Biểu 5: Vận tải hàng hóa quý I năm 2025 phân theo ngành vận tải                                                                              
  Khối lượng hàng hóa Tốc độ tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)
  Vận chuyển Luân chuyển Vận chuyển Luân chuyển
  (Triệu HK) (Triệu HK.km)
Tổng số 10,7 3 886,6 15,3 20,4
Đường bộ 5,4      237,8 12,3   9,3
Đường biển 3,5   3 423,9 22,0  21,7
Đường thủy 1,8      224,9       12,4  13,3
Dịch vụ hỗ trợ vận tải, bưu chính chuyển phát
Doanh thu hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 3/2025 ước đạt 7,9 tỷ đồng, giảm 0,3% so với tháng trước và tăng 25% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2025, doanh thu ước đạt 24 tỷ đồng, tăng 20,2% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu bưu chính chuyển phát tháng 3/2025 ước đạt 0,8 tỷ đồng, giảm 1,3% so với tháng trước và tăng 36,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2025, doanh thu ước đạt 2,6 tỷ đồng, tăng 26,8% so với cùng kỳ.
6. Thu, chi Ngân sách Nhà nước; hoạt động ngân hàng
Tổng thu ngân sách Nhà nước quý I năm 2025 ước đạt 12.404,9 tỷ đồng, đạt 54,5% so với dự toán, tăng 134,2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, thu nội địa ước đạt 3.339,3 tỷ đồng, tăng 75,3%; thu thuế xuất, nhập khẩu ước đạt 250 tỷ đồng, tăng 14,9%; trợ cấp ngân sách trung ương ước đạt 3.148 tỷ đồng, tăng 53,2%.
Tổng chi ngân sách địa phương quý I năm 2025 ước đạt 5.640,7 tỷ đồng, tăng 23,9% so với cùng kỳ; trong đó, chi phát triển kinh tế ước đạt 3.044,1 tỷ đồng, tăng 29,8%; chi tiêu dùng thường xuyên ước đạt 2.577 tỷ đồng, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm trước.
Trong tháng, hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn đã tích cực thực hiện các biện pháp huy động vốn, đẩy mạnh công tác thông tin truyền thông, khai thác tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư; đẩy mạnh hoạt động cho vay, gia tăng thêm lượng vốn cung ứng cho nền kinh tế. Dự kiến đến 31/3/2025, tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn ước đạt 140.182 tỷ đồng, tăng 5,97% so với 31/12/2024; tổng dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng ước đạt 110.931 tỷ đồng, tăng 1,53% so với 31/12/2024.
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Lao động, việc làm
Trong quý I, toàn tỉnh có khoảng 7.528 lao động có việc làm tăng thêm (trong đó: việc làm tại địa phương 5.220 lao động, đi làm việc ở tỉnh ngoài 1.421 lao động, đi làm việc ở nước ngoài 887 lao động). Thực hiện chính sách trợ cấp thất nghiệp cho 1.528 trường hợp lao động thất nghiệp. Tư vấn, giới thiệu việc làm cho khoảng 7.600 lượt người.
Các đơn vị chức năng phối hợp với các huyện, thành phố triển khai các chương trình hỗ trợ việc làm, dạy nghề trên địa bàn tỉnh, đẩy mạnh hoạt động tuyển chọn đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo các hình thức dài hạn và ngắn hạn. Đã hoàn thành các bước tuyển chọn người lao động đi làm việc thời vụ tại thành phố Icheon, tỉnh Gyeonggi, Hàn Quốc năm 2025, dự kiến ngày 27/3/2025 xuất cảnh đợt 1 là 52 lao động của huyện Kiến Xương.
2. Trợ cấp xã hội, lĩnh vực người có công
Nhân dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025, tỉnh đã tổ chức tốt các hoạt động thăm, tặng quà đối với người có công, người cao tuổi, hộ nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Tổ chức triển khai tặng 75.504 suất quà của Chủ tịch nước, 83.324 suất quà của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và 71.721 suất quà của các huyện, thành phố tới người có công và thân nhân với tổng kinh phí trên 93,11 tỷ đồng; tặng 70.904 suất quà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, gia đình có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh (đảm bảo 100% hộ được tặng quà) với tổng kinh phí 39,85 tỷ đồng; hỗ trợ tiền ăn cho 791 đối tượng bảo trợ xã hội với tổng kinh phí 609 triệu đồng; tặng 2.100 suất quà cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn với kinh phí 1,02 tỷ đồng; tổ chức chúc thọ, mừng thọ cho 59.024 người cao tuổi với tổng kinh phí trên 20 tỷ đồng.
Các đơn vị chức năng triển khai thực hiện Đề án hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo xóa nhà tạm nhà dột nát và Đề án hỗ trợ nhà ở cho người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ trên địa bàn tỉnh Thái Bình, đến nay đã có 1088 hộ nghèo, hộ cận nghèo khởi công xây dựng, sửa chữa nhà ở, trong đó có 353 hộ đã được cấp kinh phí. Số dự kiến khởi công từ nay đến cuối tháng 3 là 428 hộ, dự kiến có 590 hộ không còn nhu cầu. Tổng kinh phí dự kiến 93,6 tỷ đồng.
Đối với hộ gia đình người có công, đến nay có 92 hộ hoàn thành việc xây dựng nhà ở (xây mới: 10 hộ; sửa chữa: 82 hộ); 327 hộ đang thi công (213 hộ xây mới, 114 hộ sửa chữa); 311 hộ dự kiến thi công trong tháng 3/2025 (140 hộ xây mới; 171 hộ sửa chữa). Hiện tại có 136 hộ không còn nhu cầu, không đủ điều kiện hỗ trợ.
Trong quý I, tỉnh đã thẩm định và giải quyết 3.025 thủ tục, hồ sơ đề nghị hưởng chế độ chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng tại Trung tâm hành chính công của tỉnh và 1.109 thủ tục, hồ sơ tại bộ phận Thường trực của Sở Nội vụ. Nuôi dưỡng và chăm sóc chu đáo, tận tình đối với các thương, bệnh binh nặng, đảm bảo sức khỏe ổn định. Phối hợp với các huyện, thành phố triển khai kế hoạch điều dưỡng đón người có công đi điều dưỡng tập trung tại Trung tâm Nuôi dưỡng và Điều dưỡng người có công Thái Bình.
3. Tình hình dịch bệnh, HIV/AIDS và ngộ độc thực phẩm
Tình hình dịch bệnh, HIV/AIDS:
Trên địa bàn toàn tỉnh, 100% người nhiễm HIV được hỗ trợ mua và đóng nối thẻ BHYT hằng năm. Hệ thống giám sát, đánh giá chương trình HIV/AIDS được triển khai đồng bộ. Tính đến hết 25/03/2025 trên địa bàn tỉnh hiện có: 2.331 người HIV/AIDS; Tại 10 phòng khám trên địa bàn tỉnh hiện đang quản lý và điều trị ARV cho 1.481 bệnh nhân, 98% bệnh nhân nhiễm HIV điều trị có thẻ BHYT; Quản lý 1.219 bệnh nhân điều trị Methadone tại các cơ sở điều trị và cơ sở cấp phát.
Tình hình dịch bệnh:
- Quý I năm 2025, ghi nhận 62 trường hợp mắc chân tay miệng, các ca mắc tập trung ở nhóm trẻ dưới 3 tuổi, không ghi nhận ca tử vong, 220 trường hợp mắc thủy đậu; Các bệnh truyền nhiễm khác không ghi nhận bất thường; Không ghi nhận ca bệnh truyền nhiễm như Cúm A/H5N1, H7N9….
- Chương trình phòng chống sốt xuất huyết và sốt rét: Quý I năm 2025 toàn tỉnh đã ghi nhận tổng số 35 ca mắc Sốt xuất huyết, trong đó có 17 ca nội sinh, không có trường hợp tử vong. Toàn tỉnh không phát hiện bệnh nhân sốt rét.
- Hội chứng cúm: Ghi nhận 7.540 trường hợp, không có tử vong. Không ghi nhận các trường hợp Cúm do virus HMPV.
- Sởi: Quý I năm 2025, toàn tỉnh ghi nhận 101 trường hợp dương tính Sởi có địa chỉ tại Thái Bình, các ca bệnh rải rác tại các huyện/Thành phố. Hầu hết các trường hợp mắc đều chưa được tiêm hoặc chưa đủ độ tuổi tiêm vắc xin phòng bệnh Sởi theo quy định, không ghi nhận tử vong.
- Các bệnh truyền nhiễm khác:
+ Quý I năm 2025 ghi nhận 03 trường hợp ho gà tại huyện Tiền Hải (01), TP Thái Bình (01), và huyện Đông Hưng (01). Các ca bệnh được quản lý, giám sát và phòng chống dịch bệnh theo quy định.
+ Ghi nhận 01 trường hợp viêm màng não do não mô cầu tại huyện Quỳnh Phụ. Hiện tại, bệnh nhân đã điều trị ổn định, tiếp xúc tốt, được theo dõi, tập phục hồi chức năng tại Viện Y học nhiệt đới - Bệnh viện Bạch Mai. Các hoạt động tuyên truyền, phòng chống dịch bệnh được triển khai theo quy định.
+ Các bệnh truyền nhiễm lưu hành khác như quai bị, adenovirus, thuỷ đậu... qua giám sát hiện chưa ghi nhận bất thường. Các bệnh truyền nhiễm có nguy cơ xâm nhập khác như Đậu mùa khỉ, viêm gan cấp tính không rõ nguyên nhân... chưa phát hiện ca bệnh/nghi bệnh trên địa bàn tỉnh, các hoạt động giám sát được duy trì.
- Tình hình COVID-19 tại tỉnh: Dịch bệnh Covid-19 tiếp tục được kiểm soát tốt, số ca bệnh ghi nhận trong Quý I năm 2025 duy trì ở mức thấp với 51 trường hợp bệnh được báo cáo (tương đương giai đoạn cuối năm 2024).
- Triển khai công tác phòng chống dịch chủ động trên địa bàn tỉnh, chủ động giám sát các ổ dịch bệnh truyền nhiễm mùa Đông - Xuân, dịp Tết Nguyên đán và mùa lễ hội 2025. Phối hợp với TTYT huyện Hưng Hà đảm bảo hoạt động phòng chống dịch tại lễ hội Đền Trần từ ngày 10-14/02/2025.
Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm:
Tỉnh đã tổ chức triển khai Kế hoạch của Ban chỉ đạo An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh về đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm dịp tết Nguyên đán Ất Tỵ và lễ hội xuân năm 2025. Trong tháng không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm đông người trên địa bàn toàn tỉnh.
4. Hoạt động giáo dục
Sở Giáo dục và Đào tạo đã chủ động quán triệt và thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của cấp trên về việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, tích cực thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo. Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, cơ sở giáo dục thực hiện nghiêm túc các quy định về việc chấp hành an ninh trật tự, an toàn giao thông, phòng chống cháy, nổ, đốt pháo nổ trong dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025.
Hiện tại, ngành Giáo dục và Đào tạo có toàn tỉnh có 755 cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục nghề nghiệp; trong đó, 303 trường mầm non (trong đó có 286 trường công lập, 17 trường tư thục), 120 trường tiểu học, 106 trường THCS, 167 trường TH&THCS, 02 trường TH, THCS&THPT, 39 trường THPT; 01 trung tâm GDTX tỉnh, 08 Trung tâm GDNN-GDTX huyện, 04 trường cao đẳng, 5 trường trung cấp. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh hiện có 111 trung tâm ngoại ngữ, tin học, 12 trung tâm giáo dục kỹ năng sống và ngoài giờ chính khóa; 8 trung tâm dạy nghề. Tổng số học sinh, sinh viên trên địa bàn tỉnh là 407.431.
Công tác đào tạo nghề tiếp tục được quan tâm chỉ đạo, hiện trên địa bàn tỉnh có 4 trường cao đẳng, 5 trường trung cấp và 8 trung tâm dạy nghề với quy mô 7.269 học sinh, sinh viên. Tháng 02/2025, Ủy ban nhân dân tỉnh đã nghe Sở Lao động, Thương binh và Xã hội báo cáo về thực trạng công tác đào tạo nghề và Kết quả khảo sát, đánh giá nhu cầu lao động của doanh nghiệp năm 2025, 2026 và giai đoạn 2027-2030; phối hợp với các Sở, ngành, UBND huyện, thành phố và Công ty Cổ phần FPT khảo sát một số địa điểm trên địa bàn tỉnh mở một số trường liên cấp và Trường đào tạo nghề chất lượng cao.
Kỳ thi chọn Học sinh giỏi quốc gia năm học 2024-2025: Thái Bình có 52/72 học sinh đoạt giải (tăng 10 giải so với năm học trước), trong đó có 1 giải Nhất; 11 giải Nhì; 19 giải Ba và 21 giải Khuyến khích. Một số môn có chất lượng giải cao như: môn Ngữ văn (1 giải nhất, 4 giải nhì, 1 giải ba, 2 giải khuyến khích); Vật lý (3 giải nhì, 2 giải ba, 2 giải khuyến khích); Sinh học (2 giải nhì, 2 giải ba, 3 giải khuyến khích).
Kỳ thi chọn học sinh giỏi lớp 9 THCS cấp tỉnh năm học 2024-2025: 413/720 học sinh đoạt giải (đạt tỉ lệ 57,4%), trong đó 41 giải Nhất, 68 giải Nhì, 126 giải Ba, 178 giải Khuyến khích. Đơn vị có kết quả tốt: Phòng GDĐT Thành phố (13 giải Nhất, 22 giải Nhì, 27 giải Ba, 19 giải Khuyến khích), Phòng GDĐT Đông Hưng (9 giải Nhất, 4 giải Nhì, 11 giải Ba, 25 giải Khuyến khích), Phòng GDĐT Vũ Thư (5 giải Nhất, 14 giải Nhì, 25 giải Ba, 25 giải Khuyến khích).
Kỳ thi chọn học sinh giỏi lớp 12 THPT cấp tỉnh năm học 2024-2025: 1.078/1.819 học sinh đoạt giải (đạt tỉ lệ 59,3%), trong đó 77 giải Nhất, 208 giải Nhì, 336 giải Ba, 457 giải Khuyến khích. Đơn vị có kết quả tốt: Trường THPT Bắc Đông Quan (9 giải Nhất, 8 giải Nhì, 16 giải Ba, 11 giải Khuyến khích), THPT Chuyên (7 giải Nhất, 13 giải Nhì, 25 giải Ba, 20 giải Khuyến khích), THPT Đông Thụy Anh (6 giải Nhất, 16 giải Nhì, 13 giải Ba, 20 giải Khuyến khích), THPT Nam Đông Quan (5 giải Nhất, 5 giải Nhì, 19 giải Ba, 16 giải Khuyến khích).
Hoàn thành Cuộc thi lựa chọn dự án cấp tỉnh tham gia Cuộc thi nghiên cứu khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh trung học năm học 2024-2025: có 30 dự án thuộc 4 nhóm lĩnh vực tham gia lựa chọn, Ban Tổ chức đã lựa chọn 03 dự án/5 dự án xuất sắc nhất tham gia Cuộc thi cấp quốc gia, kết quả: 02 dự án đoạt giải Tư, 01 dự án đoạt giải Triển vọng.
Tổ chức Giải thể thao học sinh phổ thông năm học 2024-2025 bảo đảm an toàn, nghiêm túc, đúng Điều lệ thi đấu, thu hút 48 đoàn tham gia, với 1.140 vận động viên, 344 huấn luyện viên và lãnh đạo đoàn. Kết quả, Ban Tổ chức đã trao thưởng cho các vận động viên đạt thành tích cao, cụ thể: Giải đồng đội: 9 giải Nhất, 9 giải Nhì, 18 giải Ba; Giải đôi: 6 giải Nhất, 6 giải Nhì, 12 giải Ba; Giải cá nhân: 14 giải Nhất, 14 giải Nhì, 28 giải Ba.
Tháng 3/2025, Sở GDĐT đã tổ chức Hội nghị tuyên dương giáo viên, học sinh đạt thành tích cao trong các kỳ thi, cuộc thi cấp tỉnh, cấp quốc gia năm học 2024-2025. Tại Hội nghị, đã có 9 giáo viên, 31 học sinh được tặng Bằng khen của UBND tỉnh, 158 học sinh được nhận Giấy khen của Sở GDĐT.
5. Hoạt động văn hoá - Thể thao
Tỉnh đã tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và lễ hội trước, trong và sau Tết Nguyên đán Ất Tỵ 2025. Tổ chức thành công khai mạc lễ hội đền Trần năm 2025; ban hành văn bản cho phép tu sửa cấp thiết và hướng dẫn lập hồ sơ tu sử 07 di tích lịch sử văn hóa. Chỉ đạo Bảo tàng tỉnh tổ chức hội chợ quê và phố ông Đồ tại khuôn viên Bảo tàng tỉnh phục vụ hoạt động vui chơi, giải trí và tuyên truyền, giáo dục văn hóa truyền thống của quê hương tới toàn thể nhân dân. Trong quý I, Bảo tàng tỉnh mở cửa, phục vụ trên 2.000 lượt người tham quan tại Bảo tàng và dâng hương tại Đền thờ mẹ Việt Nam anh hùng.
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” tiếp tục được tổ chức phát động và triển khai rộng khắp; việc đăng ký các danh hiệu văn hóa được thực hiện kịp thời, đảm bảo đúng quy định. Tổ chức in 4.150 quyển tài liệu quy định về thực hiện nếp sống văn hóa và quy định chi tiết tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu “Gia đình văn hoá”, “Thôn, tổ dân phố văn hoá”, “Xã, phường, thị trấn tiêu biểu” trên địa bàn tỉnh Thái Bình gửi các thôn, tổ dân, phố, các xã, phường, thị trấn trong tỉnh.
Các đơn vị chức năng tổ chức các hoạt động kỷ niệm 95 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Tổ chức các hoạt động kỷ niệm 135 năm Ngày thành lập tỉnh (21/3/1890 - 21/3/2025) và Khai mạc Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình 21/3/2025 (Gồm các hoạt động: Thông tin tuyên truyền, tuyên truyền cổ động trực quan, trên các phương tiện thông tin đại chúng, các hội nghị, diễn đàn; Dâng hương tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, các mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng liệt sỹ, các danh nhân; Lễ kỷ niệm; Triển lãm tranh cổ động; Tuần phim; Chương trình nghệ thuật "Đêm hội Chèo" Thái Bình; Giải Võ cổ truyền các câu lạc bộ tỉnh Thái Bình; Giải Vật cổ truyền tỉnh Thái Bình; Tuần du lịch tỉnh Thái Bình; Trao giải Cuộc thi Ảnh đẹp Thái Bình).
Trong quý I, Thư viện tỉnh thực hiện cấp 400 thẻ bạn đọc; phục vụ 3.428 lượt bạn đọc, 34.280 lượt tài liệu luân chuyển; tiếp nhận 536 bản sách tài trợ từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
Tỉnh đã ban hành các Kế hoạch về: nuôi dưỡng vận động viên năm 2025; tham gia thi đấu các giải thể thao thành tích cao năm 2025; tuyển chọn vận động viên năm 2025. Chỉ đạo Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao thực hiện tốt công tác quản lý vận động viên, duy trì việc giảng dạy, huấn luyện đảm bảo theo kế hoạch. Trong quý I, Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao tổ chức tập huấn cho các vận động viên tham gia thi đấu 11 giải đạt 02 HCV, 7 HCB, 07 HCĐ (gồm 2 giải quốc tế: Vô địch trẻ Châu Á JuJutsu tại Thái Lan đạt 06 huy chương: 01 HCV, 02 HCB, 03 HCĐ; đang thi đấu giải Cầu lông quốc tế tại Hà Nội; 09 giải quốc gia đạt 1 HCV, 05 HCB, 04 HCĐ: Karate ba miền, Vô địch Vật các Câu lạc bộ vật cổ điển, Vô địch và vô địch trẻ Vật bãi biển, Đua thuyền Canoeing, Vô địch lặn quốc gia bể 25m, Đua thuyền Rowing, Vô địch Wushu quốc gia, Bóng chuyền vô địch quốc gia giai đoạn I, Vô địch quốc gia Marthon cự ly dài).
Tỉnh đăng cai tổ chức Giải Cầu lông Câu lạc bộ các tỉnh thành, ngành toàn quốc năm 2025 khu vực phía Bắc. Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức giải thể thao học sinh phổ thông năm học 2024 - 2025. Tổ chức các hoạt động kỷ niệm Ngày truyền thống Ngành Thể thao Việt Nam 27/3; tổ chức thành công giải Cờ tướng tỉnh Thái Bình năm 2025; ban hành Điều lệ tổ chức giải Bóng đá Nhi đồng tỉnh Thái Bình năm 2025, Vật cổ truyền tỉnh Thái Bình, Võ cổ truyền các câu lạc bộ tỉnh Thái Bình.
6. Tình hình an toàn giao thông
Theo báo cáo từ Công an tỉnh Thái Bình, tháng 3 năm 2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 19 vụ tai nạn giao thông, làm 15 người chết và 07 người bị thương. Tính chung quý I năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 79 vụ tai nạn giao thông, làm 50 người chết và 38 người bị thương.
7. Tình hình cháy nổ, thiên tai
Trong tháng 3 năm 2025, theo báo cáo từ Công an tỉnh Thái Bình, trên địa bàn tỉnh Thái Bình không xảy ra cháy, nổ. Tính chung quý I năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 03 vụ, không có thiệt hại về người, tuy nhiên tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính là 3.023,7 triệu đồng.
Tháng 3 năm 2025, toàn tỉnh không phát sinh thiên tai. Tính chung quý I năm 2025, toàn tỉnh không phát sinh thiên tai.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây