Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Thái Bình năm 2023

Thứ tư - 20/12/2023 08:15

Tình hình kinh tế thế giới năm 2023, các tổ chức quốc tế nhận định tăng trưởng kinh tế thế giới được duy trì, nhờ quá trình bình thường hóa tiêu dùng ở Trung Quốc và tăng trưởng mạnh mẽ của Hoa Kỳ đã bù đắp cho sự suy giảm mạnh ở châu Âu. Trong bối cảnh những cú sốc tiêu cực từ cuộc xung đột ở U-crai-na và việc thắt chặt chính sách tiền tệ mạnh mẽ của các quốc gia khi các ngân hàng trung ương ứng phó với lạm phát vượt mục tiêu, tăng trưởng toàn cầu đã phục hồi ngoài mong đợi. Cụ thể, Liên minh châu Âu (EU) dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2023 đạt 3,1%; Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2023 đạt 3,0%; Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) nhận định kinh tế toàn cầu năm 2023 tăng trưởng 2,9%; Ngân hàng Thế giới nhận định tăng trưởng toàn cầu đạt 2,1% năm 2023.
Năm 2023, tại Việt Nam các tổ chức quốc tế đều hạ dự báo tăng trưởng so với các báo cáo trước đây. Theo dự báo của ADB kinh tế Việt Nam tăng trưởng yếu hơn phản ánh tác động tích lũy của nhu cầu bên ngoài giảm; thực hiện ngân sách thấp ở cấp tỉnh; phục hồi việc làm và tiêu dùng trong nước chậm. Tăng trưởng kinh tế gặp trở ngại do sản lượng công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ tăng thấp. Do suy giảm nhu cầu bên ngoài, dự báo tăng trưởng của Việt Nam năm 2023 đạt 5,2%, điều chỉnh giảm 0,6 điểm phần trăm so với dự báo trong tháng 9/2023. IMF nhận định tăng trưởng của Việt Nam năm 2023 bị chững lại do tác động mạnh của các cơn gió ngược tới nền kinh tế vào cuối năm 2022 và trong nửa đầu năm 2023. Căng thẳng tài chính tại các doanh nghiệp bất động sản xuất hiện vì các điều kiện cho vay thắt chặt hơn, những rào cản pháp lý và doanh số bán hàng chậm lại, trong khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp đóng băng. Nền kinh tế tiếp tục bị tác động do nhu cầu bên ngoài sụt giảm kể từ cuối năm 2022, với xuất khẩu giảm 12% trong nửa đầu năm 2023. Dự kiến tăng trưởng năm 2023 và 2024 của Việt Nam lần lượt đạt 4,7% và 5,8%.
Năm 2023 do tình hình kinh tế - xã hội thế giới có biến động phức tạp về địa chính trị, xung đột vũ trang, cấm vận, cạnh tranh, rào cản về kinh tế thương mại giữa các nước lớn và các khu vực; liên minh các tổ chức quốc tế về quân sự, kinh tế phức hợp đan xen làm xáo trộn các hoạt động kinh tế, chính trị, giá cả lạm phát, thu nhập nhiều khu vực dân cư trên thế giới giảm sút do chi phí đầu vào sản xuất tăng cao, sức cầu tiêu dùng yếu làm cho sản xuất, lưu thông hàng hóa khó khăn, đình trệ.
Tình hình kinh tế trong nước, trong tỉnh chịu tác động bởi bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng vì vậy chịu tác động trực tiếp ảnh hưởng của nhu cầu thị trường tiêu dùng thế giới và sự cạnh tranh về giá sản xuất của một số sản phẩm của các nước làm cho một số ngành, lĩnh vực sản xuất trên địa bàn tỉnh giảm mạnh; tuy nhiên năm 2023 trên địa bàn tỉnh cũng có một số năng lực tăng mới vì vậy theo số liệu công bố ước tính của Tổng cục Thống kê, tỉnh Thái Bình xếp bậc mức tăng trưởng Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) xếp thứ 20 cả nước, thứ 7/11 tỉnh đồng bằng Sông Hồng. Công tác thu hút đầu tư có nhiều khởi sắc, nhất là thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có sự phát triển vượt bậc so với những năm trước; tỷ lệ giải ngân đầu tư công thuộc nhóm đầu cả nước, ước thực hiện giải ngân năm 2023 đạt gần 6.300 tỷ đồng, đạt 128% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao, đạt 72,9% kế hoạch vốn địa phương phân bổ; Các lĩnh vực văn hóa, xã hội được chỉ đạo toàn diện. Công tác an sinh xã hội, chăm lo đối với người có công và các đối tượng bảo trợ chính sách xã hội được chú trọng thực hiện.
TÌNH HÌNH KINH TẾ
Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)
Năm 2023, GRDP trên địa bàn tỉnh Thái Bình (giá so sánh 2010) ước đạt 67.948 tỷ đồng, tăng 7,37% so với cùng kỳ năm 2022.
Khu vực Nông lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 13.794 tỷ đồng, tăng 2,28% so với cùng kỳ, đóng góp 0,49 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung.
Khu vực Công nghiệp - Xây dựng ước đạt 30.196 tỷ đồng, tăng 11,60% so với cùng kỳ, đóng góp 4,96 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng; trong đó: ngành công nghiệp tăng 14,56% (đóng góp 4,25 điểm phần trăm), ngành xây dựng tăng 5,24%.
Khu vực Dịch vụ ước đạt 19.723 tỷ đồng, tăng 6,13% so với cùng kỳ, đóng góp 1,80 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; thuế sản phẩm đóng góp 0,12 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung.
Quy mô GRDP theo giá hiện hành tỉnh Thái Bình năm 2023 ước đạt 123.328 tỷ đồng. GRDP bình quân đầu người năm 2022 ước đạt 65,5 triệu đồng. Cơ cấu GRDP tỉnh Thái Bình ước năm 2023 (theo giá hiện hành): khu vực Nông lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 19,9%; khu vực Công nghiệp - Xây dựng chiếm 45,0%; khu vực Dịch vụ chiếm 29,1%; thuế sản phẩm chiếm 6,0%.
 Ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản
Năm 2023, sản xuất nông lâm nghip, thy sn phi đối mt vi mt s khó khăn do thi tiết din biến bt thường, giá phân bón, giá nguyên vt liu đầu vào, chi phí cho sn xut... tăng cao tác động trc tiếp đến hot động sn xut, nhưng tnh và ngành Nông nghiệp đã có nhiu gii pháp tháo g kp thi, hiu qu. Vì thế, trng trt đạt kết qu đáng khích l, chăn nuôi n định, dch bnh trên đàn vt nuôi được kim soát tt, nuôi trng thy sn phát trin ổn định. Kết quả cụ thể như sau:
Nông nghiệp
Trồng trọt
Cây hàng năm
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm 2023 đạt 216,7 nghìn ha, giảm 1,7 nghìn ha (-0,8%) so với cùng kỳ; trong đó diện tích lúa cả năm đạt 150 nghìn ha, giảm 1,6 nghìn ha (-1,08%) so với năm 2022 (vụ Đông xuân gieo cấy đạt 75.000 ha, giảm 621 ha, vụ mùa gieo cấy đạt 75.000 ha, giảm 1.006 ha). Nguyên nhân giảm do các địa phương tiếp tục quy hoạch mở rộng khu, cụm công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng, chuyển đổi từ đất trồng lúa sang sử dụng cho mục đích trồng hàng năm khác và một số diện tích bỏ hoang không canh tác. Mặc dù diện tích gieo cấy lúa giảm song năng suất, sản lượng lúa của vụ xuân và vụ mùa đều tương đương năm 2022. Cơ cấu giống lúa, cơ cấu mùa vụ chuyển dịch theo hướng tích cực mở rộng diện tích cấy giống lúa ngắn ngày, năng suất, chất lượng; trong đó diện tích giống lúa ngắn chất lượng cao tiếp tục được mở rộng. Sản xuất lúa cả năm 2023 đã giành được kết quả thắng lợi, năng suất lúa cả năm đạt 130,8 tạ/ha (năng suất lúa vụ xuân đạt 71 tạ/ha, vụ mùa đạt 59,8 tạ/ha). Sản lượng thóc cả năm đạt 979,3 nghìn tấn.
Sơ bộ năng suất, sản lượng một số cây trồng như sau: Năng suất ngô đạt 57 tạ/ha, giảm 0,3%, sản lượng đạt 50,1 nghìn tấn, giảm 3%; khoai lang đạt 121,6 tạ/ha, giảm 0,7%, sản lượng đạt 35,5 nghìn tấn, giảm 6,1%; lạc đạt 29 tạ/ha, giảm 10,1%, sản lượng đạt 7,1 nghìn tấn, giảm 4,7% so với cùng kỳ...
Theo tiến độ sản xuất của Sở NN & PTNT tính đến ngày 21/12/2023, diện tích đất trồng lúa vụ xuân đã cày lật 63.800 ha, đạt 86% kế hoạch gieo cấy lúa xuân năm 2023. Diện tích cây vụ đông đã thu hoạch 17.480 ha, đạt 46,2% diện tích cây vụ đông đã trồng.
Cây lâu năm
Diện tích cây lâu năm toàn tỉnh năm 2023 ước đạt 8.320 ha, tăng 0,85% (+70 ha) so với năm 2022; trong đó diện tích cây ăn quả đạt 5.909 ha, chiếm 71,02% trong tổng diện tích của toàn tỉnh, tăng 0,71% (+42 ha) so với cùng kỳ năm 2022, diện tích tăng tập trung ở một số loại cây trồng như: chuối, mít… Thực hiện chủ trương giảm diện tích lúa kém hiệu quả chuyển sang các cây trồng khác đặc biệt là cây ăn quả có giá trị kinh tế đã khẳng định được hiệu quả kinh tế.
Hầu hết các loại cây ăn quả đều được mùa cho năng suất khá, sản lượng của nhiều loại cây trồng như chuối, các loại quả có múi thuộc họ cam quýt,...tăng so cùng kỳ như: Chuối đạt 77,5 nghìn tấn, tăng 0,93%; bưởi đạt 3,9 nghìn tấn, tăng 2,1%; cam đạt 2,7 nghìn tấn, tăng 2,2%...
Chăn nuôi
Chăn nuôi theo hình thức trang trại, ứng dụng công nghệ được nhân rộng. Chuyển đổi phương thức chăn nuôi theo hướng công nghiệp hiện đại; quy trình chăn nuôi an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh, chăn nuôi VietGAHP được tuyên truyền, nhân rộng áp dụng rộng rãi; khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi, thú y được chuyển giao, ứng dụng đem lại giá trị, hiệu quả kinh tế cao hơn,…
Vi mc tiêu toàn tnh đề ra là phc hi chăn nuôi ln; duy trì đàn gia cm trng tâm là đàn gà; đàn trâu, bò phn đấu tăng t 2% đến 5%. Ngành nông nghip đã khuyến cáo, hướng dn các cơ s, h chăn nuôi thc hin tái đàn bo đảm an toàn dch bnh. Trước khi thc hin tái đàn, tăng quy mô chăn nuôi, người chăn nuôi cn tìm hiu thông tin v d báo và din biến th trường, v lượng cung cu, nơi tiêu th sn phm để đầu tư s lượng đàn sao cho phù hp vi điu kin kinh tế; không tái đàn t, nht là ti các cơ s chăn nuôi và vùng đã xy ra dch bnh trong thi gian trước đó.
Chăn nuôi gia súc: Tổng đàn trâu, bò tại thời điểm 01.01.2024 ước đạt 59,3 nghìn con, tăng 1,1% so với cùng kỳ; trong đó tổng đàn trâu ước đạt 7,2 nghìn con, tăng 1,1%; tổng đàn bò ước đạt 52,1 nghìn con, tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước.
 Tính chung cả năm 2023 sản lượng thịt trâu, bò hơi xuất chuồng ước đạt 10.638 tấn, tăng 2% so với cùng kỳ; trong đó sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng ước đạt 908 tấn, tăng 1,2%; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng ước đạt 9.730 tấn, tăng 2,1% so với cùng kỳ.
Chăn nuôi ln: Mặc dù tình hình dịch bệnh trên địa bàn đã được kiểm soát, số lượng đầu con trong những tháng gần đây đã có sự biến động tăng do các cơ sở nuôi đã bắt đầu thực hiện việc tái đàn, song trên thực tế số lượng lợn tái đàn tại các địa phương trong tỉnh vẫn còn chậm so với kỳ vọng. Bởi sau một thời gian dài bị ảnh hưởng giá thức ăn chăn nuôi tăng cao, giá lợn hơi giảm nên các hộ chăn nuôi nhỏ phải đối mặt với nhiều khó khăn chưa thể tái đàn, mặt khác người chăn nuôi cũng đang rất thận trọng, do e ngại dịch bệnh bùng phát trở lại. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền áp dụng các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi lợn rất khó khăn do Thái Bình chăn nuôi nhỏ lẻ, nông hộ là chủ yếu; nhiều trang trại và các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ dù có đủ điều kiện vẫn thận trọng tái đàn vì chi phí đầu tư lớn. Việc tái đàn tập trung vào những hộ chăn nuôi lớn có quy mô trang trại trở lên.
Tổng đàn lợn tại thời điểm 01.01.2024 ước đạt 710,8 nghìn con, tăng 0,6% so với cùng kỳ. Tính chung cả năm 2023 sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt 172,9 nghìn tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm 2022.
Chăn nuôi gia cầm: Với mục tiêu duy trì đàn gia cầm, trọng tâm là đàn gà, tỉnh đã tạo điều kiện cho các hộ chăn nuôi tích cực chuyển đổi phương thức chăn nuôi từ nhỏ lẻ sang chăn nuôi nông hộ chuyên nghiệp, trang trại tập trung và nhất là việc đẩy mạnh ứng dụng trong thực tiễn, đưa vào nuôi nhiều giống gà là tổ hợp lai của các giống gà lông màu cao sản có năng suất, chất lượng tốt, thích nghi với điều kiện khí hậu như: Gà Rilai, Mía lai…..
Ước tính tổng đàn gia cầm thời điểm 01.01.2024 đạt 14,6 triệu con, tăng 2,1% so với cùng kỳ; trong đó, số lượng đàn gà đạt 10,4 triệu con, tăng 1,7% so với cùng kỳ; số lượng đàn vịt đạt 5 triệu con, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung năm 2023 sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng ước đạt 72,8 nghìn tấn, tăng 2,7% so với cùng kỳ; trong đó sản lượng thịt gà hơi xuất chuồng đạt 57,1 nghìn tấn, tăng 2,7%. Sản lượng trứng gia cầm năm 2023 ước đạt 344,5 triệu quả, tăng 1,9% so với cùng kỳ ; trong đó sản lượng trứng gà ước đạt 193,3 triệu quả, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước.
Thuỷ sản
Trong năm sản xuất thủy sản tương đối ổn định và đạt kết quả khá, thời tiết nhìn chung tương đối tốt tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động khai thác. Công tác vệ sinh phòng trừ dịch bệnh được quan tâm thực hiện thường xuyên nên dịch bệnh phát sinh ở mức độ nhẹ không đáng kể; phương thức nuôi thủy sản lồng/bè được duy trì phát triển khá tại một số địa phương, các giống cá chủ lực và giống đặc sản cho năng suất và giá trị cao được duy trì và phát triển như Trắm, Chép, cá Diêu Hồng, cá Lăng, cá Rô phi đơn tính... diễn biến thời tiết trong năm tương đối thuận lợi nhiệt độ thích hợp cho nuôi trồng thủy sản nước lợ, nước ngọt và nước mặm, năng suất nuôi trồng đạt khá.
Tổng sản lượng thủy sản cả năm 2023 ước đạt 289,4 nghìn tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ; trong đó cá đạt 115,6 nghìn tấn, tăng 3,1%; tôm đạt 8,2 nghìn tấn, tăng 3,3%; thủy sản khác đạt 165,6 nghìn tấn, tăng 3,3% so với cùng kỳ.
Từ đầu năm đến nay tình hình thời tiết tương đối ổn định, dịch bệnh không đáng kể thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thủy sản của người dân.
Tính chung cả năm 2023 sản lượng nuôi trồng ước đạt 187,8 nghìn tấn, tăng 3,3% so với cùng kỳ; trong đó cá đạt 46,8 nghìn tấn, tăng 3%; tôm đạt 5,9 nghìn tấn, tăng 3,4%; thủy sản khác ước đạt 135,1 nghìn tấn, tăng 3,4% so với cùng kỳ.
Nuôi trồng thủy sản lồng bè đã và đang phát triển ổn định tại các địa phương, đối tượng chủ yếu nuôi là cá lăng và cá diêu hồng;… và hầu trên bè ở cửa sông. Sản lượng nuôi lồng bè năm 2023 ước đạt 2,7 nghìn tấn, tăng 2,4% so với năm 2022.
Sản xuất công nghiệp
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tỉnh Thái Bình tháng 12/2023 tăng 10,0% so tháng 11/2023, tăng 10,2% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: ngành Khai khoáng tăng 1,0% so với tháng trước và giảm 2,4% so với cùng kỳ; Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,8% so với tháng trước và tăng 0,01% so với cùng kỳ; Sản xuất và phân phối điện tăng 23,6% so với tháng trước và tăng 131,8% so với cùng kỳ; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,4% so với tháng trước và tăng 0,5% so với cùng kỳ.
Tính chung năm 2023, IIP ước tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: ngành khai khoáng giảm 15,7%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 1,0%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 77,6%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,4%.
Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tháng 12/2023 có tốc độ tăng cao so với tháng trước như:  Cấu kiện nhà slắp sẵn bằng kim loại (+50,8%); Điện sản xuất (+29,1%); Khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng (+9,4%); Thức ăn cho gia súc (+20,8%)... Tuy nhiên trong tháng 12/2023 một số sản phẩm giảm so với tháng trước như: Bia dạng lon (-29%); Nitơrat Amoni (-50%); Sản phẩm sứ vệ sinh (-5,8)...
Ước chung cả năm 2023, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu như:
Sản phẩm khí tự nhiên dạng khí năm 2023 ước đạt 27 triệu m3 khí, giảm 23% (-8 triệu m3 khí). Nguyên nhân do đơn giá khí cao, các doanh nghiệp hạn chế dùng khí để sản xuất kinh doanh nên lượng tiêu thụ và giá trị thấp.
Sản phẩm dệt (sợi và khăn) Sản phẩm sợi từ bông cả năm 2023 ước đạt 68,3 nghìn tấn, tăng 0,39% (+265 tấn). Sản phẩm khăn mặt, khăn tắm và các loại khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp năm 2023 ước đạt 65,5 nghìn tấn, tăng 6,8% (+4,2 nghìn tấn).
Sản phẩm sắt thép các loại Sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác năm 2023 ước đạt 614,9 nghìn tấn, tăng 69% (+250,9 nghìn tấn). Sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng năm 2023 ước đạt 423 nghìn tấn, tăng 73,9% (+179,7 nghìn tấn). Sản phẩm sắt thép tăng do đóng góp của Công ty TNHH Thép đặc biệt Shengly, đã phục hồi và hoạt động sản xuất trở lại từ đầu năm 2023. Cấu kiện nhà lắp sẵn bằng kim loại năm 2023 ước đạt 25,7 nghìn tấn, tăng 14% (+3,1 nghìn tấn).
Sản phẩm phụ tùng và bộ phận phụ trợ cho xe có động cơ và động cơ xe Bộ dây đánh lửa và bộ dây khác sử dụng cho xe có động cơ năm 2023 ước đạt 9,6 triệu bộ, tăng 12,2% (+1,04 triệu bộ). Cần gạt nước, sương, tuyết trên kính chắn năm 2023 ước đạt 20,9 triệu cái, giảm 39,7% (-13,8 triệu cái). Túi khí an toàn năm 2023 ước đạt 5,8 triệu cái, tăng 84,4% (+2,6 triệu cái).
Điện và phân phối điện Điện sản xuất năm 2023 ước 6.341 triệu Kwh, tăng 89,8% (+3.001 triệu Kwh); do đóng góp của Ban Quản lý dự án Điện lực Dầu khí Thái Bình II đã đi vào hoạt động sản xuất. Điện thương phẩm năm 2023 ước đạt 3.521 triệu Kwh, tăng 12,9% (+403,1 triệu KWh).
Qua khảo sát xu hướng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chế biến, chế tạo
Xu hướng tổng quan về tình hình sản xuất kinh doanh chế biến, chế tạo toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý IV/2023 cho thấy: Có 40,28% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn so với quý III/2023; 38,89% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 20,83% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn.
Đầu tư – xây dựng
Đầu tư
Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2023 ước đạt 59.642 tỷ đồng, tăng 5,6% so cùng kỳ. Trong đó: Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn nhà nước ước đạt 8.374 tỷ đồng, tăng 9,1%; vốn đầu tư khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 39.485 tỷ đồng, tăng 2,8%; vốn đầu tư khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện 5.461 tỷ đồng, tăng 53,7% so cùng kỳ.
Một số dự án đầu tư khởi công mới
Dự án trọng điểm của tỉnh, dự án đầu tư xây dựng các tuyến đường trục kết nối với các khu chức năng trong Khu kinh tế Thái Bình vốn đầu tư 2.516 tỷ đồng, năm 2023 ước đạt 558 tỷ đồng; bao gồm:
- Tuyến số 1: Đầu tư xây dựng tuyến đường trục ngang phía bắc Khu kinh tế đoạn qua Khu công nghiệp - dịch vụ Liên Hà Thái với chiều dài 3,73km;
- Tuyến số 2: Đầu tư xây dựng tuyến đường nối từ Quốc lộ 37B và khu cảng, khu công nghiệp dịch vụ Thái Thượng với chiều dài 0,97km, quy mô đường cấp III đồng bằng; Giá trị thực hiện tuyến số 1+2, ước đạt 308 tỷ đồng;
- Tuyến số 3: Đầu tư xây dựng tuyến đường trục phía nam Khu kinh tế từ đường ven biển đến Quốc lộ 37B với chiều dài khoảng 13,07km (Tiền Hải khoảng 9km, Kiến Xương khoảng 4km), quy mô mặt cắt ngang đường cấp II đồng bằng; Giá trị thực hiện tuyến số 3 ước đạt 250 tỷ đồng;
- Tuyến số 4: Đầu tư xây dựng tuyến đường nối từ đường bộ ven biển Thái Bình đến khu bến cảng Ba Lạt với chiều dài khoảng 2,02km, quy mô đường chính khu vực, đường trục chính khu công nghiệp; Tuyến số 4 đã được phê duyệt thiết kế thi công;
- Tuyến số 5: Nâng cấp, cải tạo tuyến đường trục trung tâm phía Nam sông Trà Lý (đường ĐT.464) đoạn từ xã Tây Lương đến xã Đông Xuyên, huyện Tiền Hải với chiều dài tuyến khoảng 6,34km, quy mô đường cấp IV đồng bằng; Giá trị thực hiện tuyến số 5 ước đạt 800 triệu đồng;
Dự án xây dựng nhà máy may xuất khẩu Việt Hồng vốn đầu tư 61,5 tỷ đồng, năm 2023 ước đạt 15 tỷ đồng;
Dự án nhà máy lắp ráp đèn led của công ty TNHH Li Xin Long, vốn đầu tư 20 tỷ đồng, năm 2023 ước đạt 5,2 tỷ đồng;
Dự án xây dựng nhà máy chuyên sản xuất, lắp ráp thiết bị làm vườn và linh phụ kiện từ nhựa, kim loại tại KCN Liên Hà Thái, vốn đầu tư 4.600 tỷ đồng, năm 2023 ước đạt 1.550 tỷ đồng;
Dự án đầu tư xây dựng nhà máy Jinyang Electronics Vina sản xuất gia công các bảng mạch in cho các sản phẩm linh kiện điện tử của Công ty Koreamst, vốn đầu tư 483 tỷ đồng, năm 2023 cơ bản hoàn thành đầu tư xây dựng cơ bản;
Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN Hải Long của chủ đầu tư Công ty CP đầu tư hạ tầng KCN Bảo Minh, vốn đầu tư 2.213,9 tỷ đồng, năm 2023 ước đạt 250 tỷ đồng;
Dự án xây dựng đường vành đai phía Nam thành phố Thái Bình, đoạn từ cầu ngang S1 đến đường Chu Văn An kéo dài, vốn đầu tư 1.039 tỷ đồng, năm 2023 ước đạt 405 tỷ đồng;
Dự án xây dựng đường Võ Nguyên Giáp kéo dài đến quốc lộ 39, vốn đầu tư 169,9 tỷ đồng, năm 2023 ước đạt 2,9 tỷ đồng;
Dự án xây dựng đường Lê Quý Đôn kéo dài (phía Nam Thành phố Thái Bình), vốn đầu tư 361,9 tỷ đồng, năm 2023 ước đạt 5,9 tỷ đồng;
Dự án xây dựng hạ tầng khu dân cư xã Đông Mỹ, Thành phố Thái Bình (tại 2 khu đất nông nghiệp giáp đường Long Hưng và đường Võ Nguyên Giáp), vốn đầu tư 267,8 tỷ đồng, năm 2023 ước đạt 14,4 tỷ đồng;
Dự án xây dựng Công viên Ký Bá (giai đoạn 2), Thành phố Thái Bình, vốn đầu tư 99,5 tỷ đồng, năm 2023 ước đạt 81,4 tỷ đồng;
Dự án xây dựng Đường Minh Tân đến Đền Trần huyện Hưng Hà, vốn đầu tư 125 tỷ đồng, năm 2023 ước đạt 46 tỷ đồng;
Dự án xây dựng đường T33 đoạn từ xã Thái Hưng đi xã Thái Phương huyện Hưng Hà, vốn đầu tư 35 tỷ đồng, năm 2023 cơ bản đã hoàn thành;
Dự án cải tạo kè Nhâm Lang đoạn Từ Nhâm Lang đến xã Điệp Nông huyện Hưng Hà, vốn đầu tư 90 tỷ đồng, năm 2023 ước đạt 34 tỷ đồng;
Dự án xây dựng đường T40 nối từ đền Thờ Lê Quý Đôn xã Độc Lập đi đền thờ cách mạng Vệ Sỹ xã Chí Hòa huyện Hưng Hà, vốn đầu tư 85 tỷ, năm 2023 ước đạt 40 tỷ đồng;
Dự án xây dựng tuyến đường từ Minh Tân đi Độc Lập đến đền Trần xã Tiến Đức huyện Hưng Hà, vốn đầu tư 128 tỷ đồng, năm 2023 ước đạt 47,5 tỷ đồng…
Tình hình đăng ký kinh doanh
Tính đến đầu tháng 12 năm 2023 đã cấp 1.146 giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; số vốn đăng ký đạt 13.851 tỷ đồng. Xác nhận Doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động là 610 doanh nghiệp. Doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là 126 doanh nghiệp, trong đó thu hồi GCN ĐKKD do DN giải thể là 126 doanh nghiệp.
Trong năm 2023 có 35 dự án đăng ký mới đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng số vốn đăng ký là 2,9 tỷ USD.
Xây dựng
Một số dự án/công trình dự kiến hoàn thành trong năm 2023:
Dự án ĐTXD công trình tuyến đường từ thành phố Thái Bình qua cầu Tịnh Xuyên đến huyện Hưng Hà, tổng vốn đầu tư 586,6 tỷ đồng, ước cả năm 2023 đạt 69,7 tỷ đồng;
Dự án Cải tạo, nâng cấp đường tránh trú bão, cứu hộ cứu nạn, phát triển kinh tế biển và đảm bảo ANQP ven biển phía Nam tỉnh Thái Bình (đường 221A), tổng vốn đầu tư 734,3 tỷ đồng, ước cả năm 2023 đạt 734,3 tỷ đồng;
Dự án Đường quy hoạch số 2 Khu đô thị Hoàng Diệu, thành phố Thái Bình, đoạn từ Quảng trường Thái Bình (đường quy hoạch số 7) đến doanh trại Sở Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh (đường quy hoạch số 5), tổng vốn đầu tư 84 tỷ đồng, ước cả năm 2023 đạt 29,2 tỷ đồng;
Tòa nhà Trung tâm kiểm soát bệnh tật Thái Bình, tổng mức đầu tư 225 tỷ đồng, ước cả năm đạt 140,3 tỷ đồng;
Dự án thành phần 2: Dự án đầu tư xây dựng nhà điều trị nội trú Bệnh viện Đa khoa huyện Quỳnh Phụ, tổng vốn đầu tư 44 tỷ đồng, ước cả năm đạt 22,6 tỷ đồng;
Cải tạo, sửa chữa cơ sở vật chất phục vụ di chuyển trụ sở một số cơ quan, đơn vị khu vực ven sông Trà Lý thuộc địa bàn, tổng vốn đầu tư 43,2 tỷ đồng, ước cả năm đạt 38,4 tỷ đồng;
Một số dự án/công trình trọng điểm thực hiện trong kỳ:
Dự án nhà máy dệt sợi Thăng Long, chủ đầu tư Tập đoàn Dragon với tổng mức đầu tư 135 tỷ đồng, cả năm 2023 ước đạt 85 tỷ đồng;
Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường từ thành phố Thái Bình qua cầu Tịnh Xuyên đến huyện Hưng Hà tổng vốn đầu tư 586,6 tỷ đồng, ước cả năm 2023 đạt 110 tỷ đổng;
Dự án Đường số 2 kéo dài đoạn từ đường tránh S1 đến tỉnh lộ 454 thuộc địa phận xã Minh Lãng, tổng vốn đầu tư 376,5 tỷ đồng, ước cả năm 2023 đạt 180 tỷ đồng;
Dự án nhà máy Lotes Thái Thụy Việt Nam, tổng vốn đầu tư 2.796 tỷ đồng, ước cả năm 1.373,4 tỷ đồng;
Dự án nhà máy GreenWorks Thái Bình, tổng vốn đầu tư 4.600 tỷ đồng, ước cả năm đạt 770 tỷ đồng;
Dự án đầu tư xây dựng nhà máy vải túi khí Asahi Kassei, tổng vốn đầu tư 906 tỷ đồng, ước cả năm đạt 598 tỷ đồng;
Dự án đầu tư xây dựng nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2, tổng vốn đầu tư 41.799 tỷ đồng, ước cả năm 2023 đạt 1.452,5 tỷ đồng;
Dự án xây dựng và kinh doanh cho thuê nhà xưởng Nam Tài, tổng vốn đầu tư 1812,8 tỷ đồng, ước cả năm 2023 đạt 1.565,6 tỷ đồng;
Dự án nhà máy Ohsung Vina tổng vốn đầu tư 907 tỷ đồng, ước cả năm 2023 đạt 881,2 tỷ đồng;
Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Liên Hà Thái, chủ đầu tư Công ty cổ phần Green I park, tổng vốn đầu tư 1.652,6 tỷ đồng, ước cả năm 2023 đạt 387,8 tỷ đồng;
Dự án đầu tư xây dựng các tuyến đường trục kết nối với các khu chức năng trong Khu kinh tế Thái Bình, tổng vốn đầu tư 2.516 tỷ đồng, ước cả năm 2023 đạt 450 tỷ đồng;
Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường bộ ven biển tỉnh Thái Bình, vốn đầu tư 3.872 tỷ đồng, ước cả năm 2023 đạt 175 tỷ đồng;
Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường bộ ven biển tỉnh Thái Bình - Hải Phòng (đoạn 9km trên địa bàn tỉnh Thái Bình) vốn đầu tư 648,7 tỷ đồng, ước cả năm 2023 đạt 93,2 tỷ đồng;
Dự án tuyến đường từ Thành Phố đi Cầu Nghìn vốn đầu tư 3872 tỷ đồng, ước cả năm 2023 đạt 277 tỷ đồng;
Dự án khu nhà ở thương mại Lê Hồng Phong-EDEN GARDEN, vốn đầu tư 1.428,5 tỷ đồng, ước cả năm 2023 đạt 428,5 tỷ đồng.
Thương mại, dịch vụ và giá cả
Năm 2023, hoạt động thương mại dịch vụ cơ bản ổn định, thị trường không có biến động lớn, hoạt động mua sắm, tiêu dùng nội địa được thức đẩy. Hầu hết các nhóm hàng có mức tăng so với cùng kỳ, tăng chủ yếu do nhu cầu và giá cả hàng hóa dịch vụ tăng do tác động của giá nguyên vật liệu đầu vào và hiệu ứng tăng lương cơ bản.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 12/2023 ước đạt 6.359 tỷ đồng, tăng 2,8% so với tháng trước và tăng 8,9% so với cùng kỳ. Trong đó: Bán lẻ hàng hóa đạt 5.616 tỷ đồng, tăng 3% và tăng 9,3%; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 414 tỷ đồng, tăng 0,8% và tăng 5%; du lịch lữ hành đạt 3 tỷ đồng, giảm 36,9% và giảm 23,9%; dịch vụ khác đạt 327 tỷ đồng, tăng 2% và tăng 6,2% so với cùng kỳ.
Ước tính năm 2023, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 69.240 tỷ đồng, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm trước.
Theo ngành kinh tế, doanh thu bán lẻ hàng hóa năm 2023 ước đạt 60.790 tỷ đồng, chiếm 87,7% tổng mức và tăng 15,1% so với cùng kỳ. Trong đó, 3/12 nhóm hàng giảm so với cùng kỳ gồm: nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm giảm 7,1%; nhóm ô tô con giảm 3,3%; nhóm nhiên liệu khác giảm 3%; các nhóm hàng còn lại đều tăng như: Nhóm lương thực, thực phẩm đạt 20.227 tỷ đồng, tăng 22,9%; nhóm xăng dầu các loại đạt 10.549 tỷ đồng, tăng 11,5%; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng đạt 10.019 tỷ đồng, tăng 20,9%; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 6.837 tỷ đồng, tăng 6,6%; nhóm phương tiện đi lại đạt 3.366 tỷ đồng, tăng 10%; nhóm hàng hóa khác 3.986 tỷ đồng, tăng 12%; nhóm hàng may mặc 2.440 tỷ đồng, tăng 7,7%;…
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành năm 2023 ước đạt 4.878 tỷ đồng, chiếm 7% tổng mức và tăng 22,5% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 177 tỷ đồng, tăng 25,1%; dịch vụ ăn uống ước đạt 4.611 tỷ đồng, tăng 21,4%; dịch vụ lữ hành ước đạt 90 tỷ đồng, tăng 1,3 lần.
Doanh thu dịch vụ khác năm 2023 ước đạt 3.573 tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ; trong đó: Bất động sản tăng 3,3% do ảnh hưởng từ lãi suất ngân hàng cho vay và kinh tế khó khăn đã tác động mạnh đến thị trường bất động sản; dịch vụ hành chính và hỗ trợ tăng 13,1% do dịch vụ cho thuê máy móc thiết bị và dịch vụ hành chính hỗ trợ văn phòng tăng cao đồng thời giá dịch vụ tăng; dịch vụ giáo dục và đào tạo giảm 24,4% do thực hiện nghiêm ngặt quy định cấm dạy thêm ngoài nhà trường; dịch vụ y tế tăng 13,3%; dịch vụ nghệ thuật và vui chơi giải trí tăng 2,8%; dịch vụ khác tăng 12,3%.
Giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2023 giảm 0,14% so với tháng trước, tăng 2,57% so với tháng 12/2022 và tăng 2,57% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 5 nhóm hàng tăng giá, 01 nhóm hàng giảm giá và 5 nhóm hàng có giá ổn định so với tháng trước.
Năm nhóm hàng hóa và dịch vụ tăng gồm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,11% chủ yếu do nhóm lương thực tăng 3,48% tác động làm CPI chung tăng 0,12 điểm phần trăm, do lượng thu mua dự trữ cho xuất khẩu tăng cao, khan hiếm đẩy giá gạo liên tục tăng; Nhóm nhà ở điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,09% do giá điện sinh hoạt, giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở chính tăng; 3 nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình; nhóm văn hóa giải trí và du lịch; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác đều tăng 0,01%.
Nhóm giao thông giảm 2,66% so với tháng trước, do ảnh hưởng từ giá xăng giảm 6,31%, giá dầu điezen giảm 7,59%; giá dịch vụ rửa xe tăng 19%.
Bình quân năm 2023, CPI tăng 1,94% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa tiêu dùng chính, nhóm bưu chính viễn thông ổn định, nhóm giao thông giảm 4,31% do giá xăng dầu giảm (-10,70%), 9 nhóm tăng giá gồm: Nhóm giáo dục tăng cao nhất (+11,36%) do tháng 9/2023 áp dụng tăng giá học phí; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác (+5,18%) tăng theo giá vàng; nhóm đồ uống và thuốc lá (+3,37%) do giá đồ uống các loại tăng; nhóm thuốc và dịch vụ y tế (+3,06%) áp dụng thông tư tăng giá dịch vụ y tế từ tháng 11/2023; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép (+2,32%); nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (+1,76%) chủ yếu tăng ở nhóm dịch vụ ăn uống ngoài gia đình; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình (+1,63%); nhóm văn hóa, giải trí và du lịch (+1,09%); nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (+1,01%).
Xuất nhập khẩu hàng hoá
Tính chung năm 2023 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa ước đạt 4.361 triệu USD, giảm 6,5% so với cùng kỳ, trong đó xuất khẩu tăng 6,1%, nhập khẩu giảm 20,4%. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 846 triệu USD.
Xuất khẩu
Ước tính năm 2023, kim ngạch xuất khẩu đạt 2.604 triệu USD, tăng 6,1% so với cùng kỳ, chủ yếu do đóng góp từ giá trị xuất khẩu của những doanh nghệp mới tham gia vào hoạt động xuất khẩu; trong đó: Kinh tế tư nhân đạt 1.499 triệu USD, tăng 4,8%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.105 triệu USD, tăng 7,8%. Do ảnh hưởng suy thoái kinh tế thế giới đã tác động làm giảm nhu cầu tiêu dùng sản phẩm, đơn giá hàng xuất khẩu nhất là ngành may mặc giảm, nhiều doanh nghiệp phải chấp nhận sản xuất theo đơn giá thấp để duy trì hoạt động, một số doanh nghiệp không có đơn hàng. Do vậy trị giá xuất khẩu mặt hàng chủ lực may mặc (chiếm 52,7%) giảm 5,2%; bên cạnh đó mặt hàng máy vi tính tăng mạnh do có doanh nghiệp mới xuất khẩu linh kiện máy tính đi vào hoạt động.
 Các mặt hàng có giá trị xuất khẩu tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (+3,4 lần); sản phẩm mây, tre, cói và thảm (+89,7%); hàng thủy sản (+64%); sản phẩm gốm, sứ (+29,5%; hàng hóa khác (+22,9%);…Ngược lại một số sản phẩm giảm như: sắt thép (-27,3%); sản phẩm gỗ (-12,9%); hàng dệt may (-5,2%);…
Theo thị trường xuất khẩu hàng hóa năm 2023, Châu Á là thị trường xuất khẩu lớn nhất của tỉnh đạt 1.423 triệu USD (chiếm 54,7%), tăng 14,7% so với cùng kỳ (trong đó: Thị trường Hàn Quốc 431 triệu USD chủ yếu là hàng dệt may chiếm 78,9%; Nhật Bản 406 triệu USD chủ yếu là linh phụ kiện sản xuất ô tô chiếm 48,8%; Trung Quốc 232 triệu USD chủ yếu là mặt hàng sợi chiếm 42,8%); tiếp đến là Châu Mỹ đạt 711 triệu USD (chiếm 27,3%); Châu Âu đạt 264 triệu USD (chiếm 10,1%).
Nhập khẩu
Ước tính năm 2023, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.757 triệu USD, giảm 20,4% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do suy thoái kinh tế toàn cầu, sức tiêu thụ các mặt hàng giảm nhất là hàng may mặc, trên địa bàn tỉnh chủ yếu là hàng may mặc và một số mặt hàng gia công, nguyên liệu do đơn vị thuê gia công trực tiếp cung cấp nên xuất khẩu và nhập khẩu có tỷ lệ thuận, giá nguyên vật liệu tăng cao nhiều doanh nghiệp nhập khẩu cầm chừng theo đơn hàng xuất; mặt hàng xăng dầu ngừng nhập khẩu từ tháng 4/2023 đến nay.
 Theo loại hình kinh tế: kinh tế tư nhân đạt 906 triệu USD, giảm 41,9%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 851 triệu USD, tăng 31%. Một số mặt hàng có mức tăng cao so với cùng kỳ như: hóa chất 31,8 triệu USD (+4,1 lần); máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 9,6 triệu USD (+2,7 lần); phế liệu sắt thép 221,7 triệu USD (+2,2 lần); máy móc, thiết bị, phụ tùng khác 70,7 triệu USD (+60,9%); hàng hóa khác 216,7 triệu USD (+35,3%)... Ngược lại một số mặt hàng giảm so với cùng kỳ như: xăng dầu các loại 80,5 triệu USD (-90,3%); chất dẻo nguyên liệu 2,4 triệu USD (-39,6%). hàng thủy sản 2,9 triệu USD (-33,6%); sắt thép các loại 14 triệu USD, (-14,5%);…
Theo thị trường nhập khẩu hàng hóa năm 2023, Châu Á vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của tỉnh đạt 1.233 triệu USD, chiếm 70,2% (Trung Quốc 370 triệu USD, Hàn Quốc 242 triệu USD, Nhật Bản 230 triệu USD); tiếp đến là Châu Âu đạt 60 triệu USD, Châu Mỹ đạt 58 triệu USD.
Hoạt động vận tải
Năm 2023 hoạt động vận tải có xu hướng tăng ở tất cả các ngành vận tải: nhu cầu đi lại, du lịch lễ hội tăng cao tác động tăng doanh thu cho vận tải hành khách; sản xuất công nghệp xây dựng tăng trưởng khá đem lại doanh thu cho ngành vận tải hàng hóa; bên cạnh đó giá cước vận tải ở hầu hết các ngành đường tăng đã góp phần tăng doanh thu hoạt động vận tải. Tổng doanh thu hoạt động vận tải tháng 12/2023 ước đạt 727 tỷ đồng, tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 10,6% so với cùng kỳ. Ước tính năm 2023, tổng doanh thu hoạt động vận tải ước đạt 8.240 tỷ đồng, tăng 14% so với cùng kỳ, trong đó hoạt động vận tải hành khách tăng 15,6%; hoạt động vận tải hàng hóa tăng 13,5%.
Vận tải hành khách
Ước tính năm 2023, doanh thu vận tải hành khách đạt 2.311 tỷ đồng, tăng 15,6% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 31,4 triệu hành khách, tăng 16,7%; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 3.516 triệu lượt khách.km, tăng 15,9% so với cùng kỳ.
Vận tải hàng hoá
Ước tính năm 2023, doanh thu vận tải hàng hoá ước đạt 5.842 tỷ đồng, tăng 13,5% so với cùng kỳ. Trong đó: vận tải hàng hóa đường bộ ước đạt 3.432 tỷ đồng, tăng 16,4%; vận tải hàng hóa đường ven biển và viễn dương đạt 2.052 tỷ đồng, tăng 9,7%; vận tải hàng hóa đường thủy nội địa đạt 358 tỷ đồng, tăng 8,4%. Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 36 triệu tấn, tăng 16,9%; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 12.811 triệu tấn.km, tăng 13% so với cùng kỳ năm trước.
TÌNH HÌNH VĂN HÓA XÃ HỘI
Dân số, tình hình lao động và việc làm
Dân số trung bình năm 2023 trên địa bàn tỉnh Thái Bình là 1.883,2 nghìn người. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 992,9 nghìn người, trong đó lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế là 982,2 nghìn người. Cơ cấu lao động như sau: lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ 25,29%, lao động công nghiệp xây dựng chiếm tỷ lệ 46,98% và lao động dịch vụ chiếm tỷ lệ 27,73%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2023 ước đạt 63,03 triệu đồng.
Năm 2023, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 34.500 người (đạt 100% kế hoạch năm), trong đó: việc làm tại địa phương 24.880 người, đi làm việc ở tỉnh ngoài 6.550 người, đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài 3.070 người). Chỉ tiêu tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội giảm còn khoảng 25,5%.
Toàn tỉnh có 281.095 người trong độ tuổi tham gia BHXH (tăng 2.501 người so với năm 2022), 215.620 người tham gia BHTN. Tỷ lệ lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHXH đạt 30,7%. Tỷ lệ lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHTN đạt 23,5%.
Trợ cấp xã hội
Thực hiện chính sách giảm nghèo, Sở Lao động thương binh và xã hội đã phối hợp với sở, ngành liên quan tham mưu UBND tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết phân bổ vốn sự nghiệp ngân sách trung ương hỗ trợ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2023 tỉnh Thái Bình, hỗ trợ kịp thời chính sách vay vốn, tiền điện, học phí cho các đối tượng thuộc hộ nghèo, cận nghèo; tham mưu UBND tỉnh cấp thẻ BHYT cho 17.527 người thuộc hộ nghèo, 24.480 người thuộc hộ cận nghèo. Nhân dịp Tết Nguyên đán Quý Mão năm 2023, toàn tỉnh tặng 129.034 suất quà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, công nhân, người lao động với tổng kinh phí 60,5 tỷ đồng, trong đó 100% hộ nghèo và cận nghèo trên địa bàn tỉnh đã được nhận hỗ trợ quà Tết. Chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn các địa phương thực hiện chính sách bảo trợ xã hội theo quy định và chi trả trợ cấp cho đối tượng bảo trợ xã hội đảm bảo kịp thời, đầy đủ.
Đến nay, theo báo cáo kết quả sơ bộ rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo định kỳ năm 2023: Tổng số hộ nghèo toàn tỉnh là 11.925 hộ, đạt tỷ lệ 1,82% (giảm 2.155 hộ, giảm 032% so với năm 2022); Tổng số hộ cận nghèo toàn tỉnh là 12.587 hộ, đạt tỷ lệ 1,92% (giảm 2.276 hộ, giảm 0,34% so với kết quả năm 2022);
Thực hiện Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động Quốc gia về người cao tuổi đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã phối hợp với địa phương chỉ đạo các xã, phường, thị trấn tổ chức chúc thọ, mừng thọ cho người cao tuổi tại địa phương đảm bảo trang trọng, ý nghĩa.
Công tác đối với người có công
Kịp thời quan tâm thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, các hoạt động tri ân, đền ơn đáp nghĩa, nhân ngày Thương binh - Liệt sĩ. Nhân dịp Tết Nguyên đán Quý Mão năm 2023, kỷ niệm 76 năm ngày Thương binh Liệt sĩ (27/7), Sở đã tham mưu cho UBND tỉnh tổ chức các Đoàn đại biểu tỉnh đi thăm và tặng 510.455 suất quà cho đối tượng người có công tiêu biểu, người có công đang được nuôi dưỡng, chăm sóc tại các Trung tâm Nuôi dưỡng, điều dưỡng người có cô ng trong và ngoài tỉnh, với tổng kinh phí 190,4 tỷ đồng. Phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Trị triển khai thực hiện sửa chữa, tu bổ khu mộ và Đài tưởng niệm liệt sĩ tỉnh Thái Bình tại NTLS Trường Sơn và NTLS Đường 9 thuộc tỉnh Quảng Trị từ nguồn xã hội hóa. Duy trì việc tiếp nhận, thẩm định hồ sơ và giải quyết chế độ chính sách cho người có công đảm bảo đúng quy trình, đảm bảo thời gian quy định. Tiếp nhận và giải quyết 11.351 lượt thủ tục hành chính về thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng (trong đó tại Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh 9.726 lượt thủ tục, tại bộ phận một cửa của Sở 1.625 lượt thủ tục), 100% thủ tục giải quyết đúng hạn, không có thủ tục quá hạn. Giải quyết thí điểm hồ sơ trên phần mềm “Cơ sở dữ liệu người có công với cách mạng” là 25 trường hợp.
Tình hình dịch bệnh, HIV/AIDS và ngộ độc thực phẩm
Tình hình dịch bệnh, HIV/AIDS
Đến ngày 31/10/2023, toàn tỉnh hiện có 2.311 người nhiễm HIV/AIDS còn sống (được báo cáo) tại 242/260 xã; 10 tháng đầu năm phát hiện mới 47 người nhiễm HIV, 11 người nhiễm HIV tử vong và 36 trường hợp phơi nhiễm với HIV trong đó có 02 trường hợp phơi nhiễm nghề nghiệp được cấp thuốc điều trị dự phòng miễn phí.
Các cơ sở điều trị thay thế nghiện chất bằng thuốc Methadone đã tiếp nhận và điều trị cho 1.376 người nghiện tại tất cả các cơ sở điều trị và duy trì việc thực hiện các xét nghiệm định kỳ và test nhanh heroin. Cấp thuốc ARV qua nguồn quỹ BHYT và điều trị ARV tại 10 cơ sở điều trị cho 1.448 bệnh nhân.
Tình hình dịch bệnh ( từ 01/01 – 31/10)
Ghi nhận 1.970 ca nghi Hội chứng Cúm; 636 trường hợp mắc chân tay miệng tăng 27 ca so với cùng kỳ năm 2022, các ca mắc tập trung ở nhóm trẻ dưới 3 tuổi, không ghi nhận ca tử vong; 464 trường hợp mắc thủy đậu tăng 138 ca so với cùng kỳ năm 2022 (326); Ho gà ghi nhận 18 ca, tăng 14 ca so với cùng kỳ năm 2022 (04). Các bệnh truyền nhiễm tương đương so với cùng kỳ năm 2022. 10 tháng đầu năm không ghi nhận ca bệnh truyền nhiễm như Cúm A/H5N1, H7N9...
Chương trình phòng chống sốt xuất huyết và sốt rét: Toàn tỉnh đã ghi nhận tổng số 730 ca mắc Sốt xuất huyết, trong đó có 308 ca nội sinh, không ghi nhận trường hợp sốt xuất huyết nặng và tử vong. 10 tháng đầu năm toàn tỉnh không phát hiện bệnh nhân sốt rét.
Mười tháng đầu năm ghi nhận 373 ca mắc, luỹ tích số ca mắc từ năm 2020 đến ngày 31/10/2023, tỉnh Thái Bình ghi nhận 274.612 ca nhiễm COVID-19. Luỹ tích đến nay toàn tỉnh đã triển khai được 4.365.897 mũi tiêm chủng vắc xin COVID-19.
Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm
 Ngành Y tế đã tham mưu kiện toàn lại Ban chỉ đạo liên ngành ATTP tỉnh, đồng thời tham mưu cho Ban chỉ đạo ATVSTP tỉnh ban hành các văn bản quan trọng chỉ đạo tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát công tác đảm bảo ATTP trên địa bàn tỉnh, nâng cao vai trò trách nhiệm các cấp, các ngành trong công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, đặc biệt trong tháng hành động vì an toàn thực phẩm. Tiếp tục thực hiện lấy mẫu giám sát mối nguy về an toàn thực phẩm đối với các nhóm thực phẩm có nguy cơ cao và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Triển khai việc lấy mẫu giám sát mối nguy ô nhiễm thực phẩm với 1.339 mẫu thực phẩm có nguy cơ cao trên địa bàn 3 huyện (Vũ Thư, Thành Phố, Đông Hưng) 6 phát hiện 18 mẫu không đạt, ngành đã gửi văn bản tới các cơ quan quản lý chuyên ngành và các đơn vị liên quan tiếp tục kiểm tra giám sát và xử lý theo quy định.
Tổ chức giám sát, điều tra 06 vụ ngộ độc thực phẩm (NĐTP) với 1.110 người ăn, 117 người mắc, 45 người nhập viện và 02 người tử vong.

Hoạt động giáo dục
Năm 2023, Sở Giáo dục và Đào tạo đã nghiêm túc triển khai thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, Bộ GDĐT; hoàn thành việc tham mưu các văn bản của ngành theo chương trình, kế hoạch của UBND tỉnh; hoàn thành nhiệm vụ năm học 2022-2023; ban hành các văn bản hướng dẫn triển khai nhiệm vụ năm học 2023-2024 đối với các cấp học trên địa bàn tỉnh.
Quy mô, mạng lưới trường lớp tiếp tục ổn định, chất lượng giáo dục các cấp học tiếp tục được duy trì tốt; tiếp tục thực hiện hiệu quả Chương trình GDPT 2018. Hoàn thành việc công nhận tỉnh Thái Bình đạt chuẩn phổ cập tiểu học, THCS cơ sở mức độ 3 và xóa mù chữ mức độ 2 năm 2022.
Thực hiện nghiêm túc các kỳ thi, cuộc thi cho học sinh và giáo viên trong toàn ngành (Hội thi KHKT học sinh trung học cấp tỉnh, Kỳ thi chọn HSG quốc gia, Giải thể thao học sinh phổ thông cấp tỉnh, Hội thi Giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh Chương trình GDTX cấp THPT, Hội thi Giáo viên chủ nhiệm giỏi THPT cấp tỉnh năm học 2022-2023.…); tổ chức nghiêm túc, đúng quy chế Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2023-2024; Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2023.
Kỉ cương, nền nếp, an toàn trường học tiếp tục được thực hiện tốt; cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học tiếp tục được quan tâm đầu tư; công tác xã hội hóa giáo dục ngày càng mở rộng. Ngân sách nhà nước chi cho giáo dục đã có sự tập trung ưu tiên cho các tiêu chí đảm bảo cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới, xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia. Thực hiện nghiêm túc công tác công khai, kiểm định chất lượng giáo dục. Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý có tinh thần trách nhiệm, yêu nghề, có đạo đức nghề nghiệp, có ý chí vươn lên, tích cực học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Sở GDĐT đã tổ chức khen thưởng, động viên kịp thời các tập thể, cá nhân đạt thành tích cao trong các kỳ thi, cuộc thi.
 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, kiểm tra, đánh giá và quản lý được đẩy mạnh. Hệ thống cơ sở dữ liệu ngành giáo dục, hệ thống bồi dưỡng giáo viên trực tuyến được triển khai đồng bộ, hiệu quả, bảo đảm cung cấp thông tin đầy đủ và kịp thời cho cơ quan quản lý các cấp.
Hoạt động văn hóa thể dục thể thao
Năm 2023, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã kịp thời tham mưu Tỉnh ủy, UBND tỉnh chỉ đạo và tập trung tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch theo kế hoạch, chương trình công tác đề ra.
 Sở đã tham mưu UBND tỉnh trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thẩm định 03 dự án tu bổ, tôn tạo di tích: Khu Lưu niệm xứ ủy Bắc Kỳ, xã Đình Phùng, huyện Kiến Xương, Đền A Sào, xã An Thái, huyện Quỳnh Phụ, Đền Lưu Xá và chùa Báo Quốc, xã Canh Tân, huyện Hưng Hà; tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo và Ban Xây dựng hồ sơ “Nghệ thuật Chèo đồng bằng sông Hồng” đệ trình UNESCO đưa vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, tổ chức họp Ban Chỉ đạo và Ban Xây dựng hồ sơ về tiến độ triển khai các công việc; tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch xây dựng hồ sơ khoa học trình UNESCO vinh danh danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn nhân kỷ niệm 300 ngày sinh (1726-2026); xây dựng kế hoạch và tổ chức Hội thảo quốc tế “Bảo vệ và phát huy giá trị di sản nghệ thuật trình diễn dân gian và nghệ thuật Chèo trong xã hội đương đại”….
Chỉ đạo Bảo tàng tỉnh tổ chức hội chợ quê và phố ông Đồ tại khuôn viên Bảo tàng tỉnh phục vụ hoạt động vui chơi, giải trí và tuyên truyền, giáo dục văn hóa truyền thống của quê hương tới toàn thể nhân dân.
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” tiếp tục được phát huy và đạt hiệu quả cao. Hoạt động của Phong trào thi đua trong Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” trên địa bàn tỉnh năm 2023 được thực hiện nề nếp. Tiếp tục thực hiện Đề án Nâng cao chất lượng danh hiệu “Gia đình văn hóa”, “Thôn văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa” trên địa bàn tỉnh và Đề án Hỗ trợ và nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình thiết chế văn hóa, thể thao thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
Hướng dẫn, hỗ trợ Trung tâm Văn hóa - Thể thao các huyện, thành phố tổ chức hoạt động tuyên truyền lưu động, triển lãm thông tin, các mẫu tranh cổ động trực quan tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị. Năm 2023, Trung tâm Văn hóa tỉnh đã tổ chức triển lãm lưu động và dựng 08 cụm pano tranh cổ động kỷ niệm 93 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 06 cụm tranh cổ động kỷ niệm 75 năm ngày Bác Hồ ra "Lời kêu gọi thi đua ái quốc"; 06 cụm tranh cổ động chào mừng kỷ niệm 78 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 02/9 tại Quảng trường 14/10; 08 cụm tranh cổ động chào mừng kỷ niệm 65 năm ngày Bác Hồ về thăm Thái Bình lần thứ 3 (26/10/1958-26/10/2023).
Sở chỉ đạo Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao thực hiện tốt công tác quản lý vận động viên, duy trì việc giảng dạy, huấn luyện đảm bảo theo kế hoạch. Năm 2023, Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao tổ chức tập huấn cho các vận động viên tham gia thi đấu 01 giải quốc tế đạt 03 HCĐ (Vô địch Bóng chuyền U23, vô địch Wushu các đội mạnh và ASIAD 19) và 36 giải quốc gia đạt 221 huy chương các loại, gồm 65 HCV, 62 HCB, 94 HCĐ; có 01 vận động viên tham gia thi đấu giải vô địch Karate Đông Nam Á giành 01 HCV, 01 HCB, 01 HCĐ. Tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á (SEAGames 32), Thái Bình có 06 vận động viên tham gia thi đấu các môn Cầu lông, Whushu, Lặn, Jujitsu, Karate; kết quả đạt 05 huy chương các loại, trong đó: Wushu đạt 01 HCV; Jujitsu đạt 01 HCB; Lặn đạt 02 HCĐ; Karate đạt 01 HCĐ; 01 HCV giải võ thuật tổng hợp châu Á. Đội Bóng chuyền nữ Geleximco Thái Bình tham dự vòng 1 Vô địch quốc gia  năm 2023 cúp Hóa chất Đức Giang xếp thứ 3 bảng.
Tình hình an toàn giao thông
Theo báo cáo của Công an tỉnh trong tháng 12/2023 (tính từ ngày 15/11/2023 đến ngày 14/12/2023), trên địa bàn tỉnh xảy ra 11 vụ tai nạn giao thông đường bộ làm 4 người chết và 7 người bị thương. Tính chung cả năm toàn tỉnh xảy ra 129 vụ tai nạn giao thông, làm 70 người chết và 87 người bị thương.
Tình hình cháy nổ
Theo báo cáo từ Công an tỉnh, từ ngày 15/01/2023 đến ngày 15/12/2023, trên địa bàn tỉnh Thái Bình không xảy ra cháy, nổ./.

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây